Giáo dục nên bắt đầu từ sách giáo khoa và chương trình

Thứ năm, 09 Tháng mười một 2006, 16:55 GMT+7
  • Chương trình học quá nặng, sách giáo khoa quá khó khiến rất nhiều học sinh và phụ huynh bức xúc. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn tới các tiêu cực trong học đường.

    Giao duc nen bat dau tu sach giao khoa va chuong trinh
    Chương trình học quá nặng khiến các em không có thời gian vui chơi. Ảnh: Nguyên Vũ

    Bình Minh, Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó
    Chương trình học hiện nay quá nặng so với khả năng các em học sinh. Số giờ học trong một ngày quá nhiều, học trên lớp theo thời khoá biểu, học bài và làm bài tập ở nhà, học thêm lên đến 12h/ngày (Từ thời khoá biểu trên lớp, thời gian học ở nhà, thời gian đi học thêm). Nội dung kiến thức bài học quá khó so với các em học sinh.

    Với môn Sinh lớp 9 dày 200 trang, học sinh phải học Di truyền và biến dị thuyết di truyền của Menden, Nhiễm sắc thể, AND và gen biến dị, di truyền học người... với những thuật ngữ, khái niệm rất khó. Với bài 9 “Nguyên phân” (trang 27), tôi phải đọc đến 3 lần mới hiểu nội dung của bài học. Những bài học như thế này là rất khó với cả những người đã tốt nghiệp ĐH, vậy làm sao con trẻ tuổi 14 học được?

    Học quá khó, học sinh không hiểu bài nên phụ huynh muốn cho con em đi học thêm, nguyên nhân nạn dạy thêm học thêm cũng là do bài học quá khó so với khả năng các em học sinh.

    Kiều Mai Phương, Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó
    Kính thưa bác Bộ trưởng Bộ GD-ĐT! Cháu thật sự muốn bác hiểu rằng học sinh chúng cháu đã không còn sức chịu đựng (cả về thể chất và trí tuệ) để học tập.

    Bác có biết, chương trình thể dục của chúng cháu nặng đến mức nào không? Ví dụ môn chạy bền, nếu là nữ, chúng cháu chỉ được 1 điểm nếu chạy với vận tốc là 4,3m/s và phải duy trì tốc độ này liên tục trong vòng gần 150s. Chúng cháu là học sinh chứ đâu phải là vận động viên điền kinh?! Khi chúng cháu có ý kiến thì giáo viên lại bảo rằng, đó là chương trình do Bộ GD-ĐT quy định, GV chỉ biết làm theo.

    Về giáo dục trí tuệ có nhiều điều mà chúng cháu muốn nói. Có thể nói chúng cháu hiện là những cái máy bị nhồi nhét, bắt ghi nhớ hết mọi điều trong SGK. Học sinh phải học cả một cuốn sách địa lý, một cuốn sách công nghệ và nhiều sách khác nữa cho kỳ thi học kỳ. Chúng cháu đâu có bộ nhớ 80G để nhớ nổi chúng vào đầu? Chúng cháu đâu phải là bác học để có thể nắm vững hết các công thức, hiểu được hết các khái niệm trừu tượng mà nhiều người chưa biết (thuyết Tương đối của Enstein có bao nhiêu người hiểu tường tận mà các bác đưa vào chương trình Vật lý 12)?

    Chúng cháu chỉ là HS mà nhà trường bắt tụi cháu phải vác 5 cuốn SGK dày cộm từ ngày này sang ngày khác (độ dày trung bình của SGK là trên 200 trang, trong đó có những cuốn siêu dày, như Vật lý 12, dày đến 390 trang)? Chúng cháu chỉ là học sinh chứ đâu phải là người đặc biệt mà có thể làm mỗi ngày 30 bài toán, 15 bài lý và soạn 2, 3 bài văn. Mà ngày nào cũng thế… Cháu thật sự muốn bác biết rằng: Chúng cháu đã, đang và có thể sẽ không còn sức chịu đựng với những gì mà các bác đề ra.

    Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó
    Con tôi hiện học lớp 8 tăng cường tiếng Anh ở một trường THCS tại quận Phú Nhuận, TP.
    HCM. Chương trình học hết sức nặng nề, đè nặng lên đôi vai trẻ thơ. Môn học ôm đồm đủ thứ, chương trình học quá nặng nên không tránh khỏi nhà trường và giáo viên phải dồn ép các em học sinh “học ngày không đủ, tranh thủ học đêm, học thêm giờ nghỉ”.

    Ngày thứ sáu luôn là “ngày kinh hoàng” nhất với mẹ con tôi. Bởi để chuẩn bị bài cho ngày thứ sáu, tối thứ năm, con tôi phải học và làm bài tập đến bảy môn khác nhau.

    Cụ thể, ngày 19-10 vừa qua (và tất cả các tuần trước đều gần như vậy), con tôi đã phải học đến muốn phát khùng vì bài vở quá nhiều. Đầu tiên là môn sử. Phải học thuộc lòng bài “Phong trào công nhân quốc tế cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20” dài hai trang vở, làm 6 bài tập sử. Môn hóa: học thuộc 30 nguyên tố hóa học (phần hóa trị), làm 4 bài tập hóa trong sách bài tập, thêm 5 bài luyện tập hóa chương 1. Làm xong 9 bài tập này dài gần mười trang vở. Môn toán: làm 3 bài tập đại số, học bài hình bình hành, làm thêm 2 bài tập khác. Anh văn: ôn unit 1, 2, 3 chuẩn bị kiểm tra một tiết, xem lại 60 câu bài tập trong đề cương ôn kiểm tra. Lý: học bài áp suất, làm một bài tập vận dụng. Công nghệ: đề cương ôn tập kiểm tra một tiết (10 câu lý thuyết, 10 câu bài tập).


    Sau khi đã mệt nhoài với sáu môn kia đến 23g đêm, con tôi bắt đầu nằm lăn ra học môn nhạc, lẩm nhẩm như mê sảng: “la, si, đô, rê, mi, đồ, mi, mi…”. Không ít lần, đồng hồ chỉ gần 12g đêm, con tôi ngủ thiếp trên nền gạch. Trên ngực nó còn úp quyển vở. Tôi gọi con vào phòng ngủ, lòng se thắt vì nó hoảng hốt bảo rằng vẫn còn một môn chưa học xong.

    Sáng nào vào lúc 5g50, tôi cũng đánh thức con dậy để vệ sinh, rồi ăn sáng để kịp 6g30 có mặt ở trường. Buổi trưa, 11g về đến nhà, con tôi vừa ôm tô cơm vừa tiếp tục học bài, hoặc làm bài tập để 12g30 lại tiếp tục đến trường. 17g về đến nhà, tắm rửa, ăn uống xong, nghỉ ngơi chỉ được khoảng một giờ lại lao vào học. Chưa đầy hai tháng vào năm học mới, con tôi đã sụt gần 2kg.

    Nguyen Khanh Hien, Đà Nẵng
    Theo tôi, môn văn (cả tập làm văn và ngữ pháp) trong trường phổ thông là giúp cho học sinh diễn đạt được suy nghĩ của mình (theo chức năng ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy) và có khả năng cảm nhận được các tác phẩm văn học. Ngòai ra, thông qua học văn, học sinh sẽ được nâng cao khả năng quan sát, đánh giá các vấn đề văn hóa, xã hội và con người, đồng thời bồi dưỡng tính chân, thiện, mỹ cho các em. Theo yêu cầu ấy, rõ ràng môn văn trong nhà trường hiện nay chưa đạt.

    Trong môn ngữ pháp, tôi có cảm tưởng nhà trường phổ thông đào tạo các em thành những nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt khi phân tích quá nhỏ về hình thức cú pháp, từ vựng, ngữ nghĩa... của tiếng Việt. Điều này quá vô ích vì các em học xong cũng chẳng để làm gì khi các em theo học chuyên ngành khác không phải ngôn ngữ, trong khi đó việc giúp các em diễn đạt lại ít được chú trọng. (Đọc các bài thi đại học môn văn, sử của các tú tài thời nay thì sẽ hiểu năng lực diễn đạt của các em như thế nào).

    Việc cảm thụ văn học của học sinh cũng có nhiều vấn đề cần xem lại. Một học sinh được xem là giỏi văn mà không thể cảm nhận được bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" và cho rằng vì không sinh ra thời đó nên không yêu bài văn này thì quả là... hết nói.

    Chúng ta cứ chạy theo những thứ quá cao siêu nhưng lại quên đi cái cụ thể nhất, cần thiết nhất. Học sinh phổ thông không cần hiểu biết sâu về âm vị, hình vị nhưng chúng cần biết thế nào là chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, phải biết thế nào là danh từ, động từ, tính từ… phải biết thế nào là câu cụt, câu sai ngữ pháp và phải viết đúng chính tả. Cái cần phải biết ấy đã không được dạy một cách đến nơi đến chống trong trường phổ thông.

    Vì vậy, giờ đây một cử nhân văn khoa viết sai chính tả và viết câu cụt cũng là chuyện thường gặp bởi đó chính là kỹ năng ngay từ thời phổ thông không được rèn dũa nên đã thành thói quen không thể thay đổi ngay cả khi vào đại học.

    Hiện nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt đang có quá nhiều quan điểm, trường phái, vậy thì hãy chọn những cái gì được nhiều người đồng ý nhất, phổ biến nhất để giảng dạy trong trường phổ thông, đừng đưa các quan điểm đang tranh luận ra dạy các em để rồi các em không biết thế nào là... phổ thông. “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp tiếng Việt”, các nhà soạn sách giáo khoa đừng làm “phong ba”, “bão táp” thêm ngữ pháp tiếng Việt để các em học sinh phải quay cuồng trong trong những trận tố lốc.

    Trần Hoàng Anh, Minh Khai, Hà Nội
    Tôi có em gái đang học lớp 5, lứa học sinh đầu tiên được sử dụng sách giáo khoa lớp 1 mới. Em tôi- một đứa bé 6 tuổi phải ngồi cặm cụi đến tận 10h30 mới học hết bài sau khi cả ngày đi học ở trường. Năm ngoái, khi hướng dẫn em tôi làm bài tập, tôi vô cùng bất bình khi bài tập đó hoàn toàn giống dạng hệ phương trình bậc nhất 2 ẩn số với cách giải theo kiểu rất thú vị là... hãy vẽ hình rồi tưởng tượng. Sách như vậy thì làm sao tránh được dạy thêm học thêm?

    Tiền Phong, Quảng Ninh
    Tôi không quan tâm lắm tới chương trình cải cách giáo dục và thay đổi sách giáo khoa! Nhưng thực lòng mà nói, tôi học phổ thông thuộc loại khá, giỏi các môn học tự nhiên, nhưng khi xem các bài tập toán, lý lớp 7 chương trình của con mình, nhiều lúc tôi rất lúng túng và phải lấy sách học của con mình ra "ngâm cứu" khá lâu biết được. Có cần thiết đưa ngay một số kiến thức toán cao cấp vào bậc học phổ thông chưa?

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Giáo dục nên bắt đầu từ sách giáo khoa và chương trình

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Giáo dục nên bắt đầu từ sách giáo khoa và chương trình bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Giao duc nen bat dau tu sach giao khoa va chuong trinh ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Giáo dục nên bắt đầu từ sách giáo khoa và chương trình ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Ý Kiến Độc Giả của chuyên mục Trang Ban Đọc.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - TRANG BAN ĐỌC - Ý KIẾN ĐỘC GIẢ