"Nước Mỹ của tôi đâu rồi?"

03:20 04/07/2004
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Nuoc My cua toi dau roi
Michael Moore
TTCN - Michael Moore, nhà đạo diễn vừa đoạt giải “Cành cọ vàng” với bộ phim Farenheit 11 tháng 9 (tựa đề chính xác là Farenheit 9/11 ) , đã la thất thanh như thế khi viết quyển sách cùng tựa đề xuất bản vào năm ngoái.

Có nhiều cách giải thích về Michael Moore, trong đó có giải thích cho rằng Moore điên cuồng... chống Tổng thống Bush là vì tính bè phái.

Có một cách giải thích khác: Michael Moore, như là một chroniqueur (tạm dịch: người chuyên viết thời đàm) đã và đang thấm thía quá nhiều chuyện về đất nước của mình. Những tác phẩm “trước- Bush” của Moore dường như khẳng định giải thích này.

Còn nếu như ngòi bút của Moore có gai góc, châm biếm, âu đó cũng là đặc tính của thể loại báo chí này! Voltaire ngày xưa đã nổi tiếng là như thế với Thư Ba Tư (Lettres persanes). Dường như nơi mỗi chroniqueur đều luôn ray rứt điều được gọi là “lương tâm xã hội”.

Thật vậy, Moore đã luôn là một “nhà ta thán” nhân danh “lương tâm xã hội”. Như trong tác phẩm Downsize this, xuất bản năm 1996, tức ngay dưới trào ông Clinton, Moore đã viết: “Đa số người Mỹ đã quyết định rằng cách thể hiện hoàn hảo ý nguyện của họ nhất chính là chẳng thèm... phát biểu gì cả. Chính vì thế trong cuộc bầu cử năm 1994, hơn 60% người Mỹ trong tuổi đi bầu, 118.535.278 người hết thảy, tức tương đương số cử tri của 42 tiểu bang, đã chọn cách bỏ phiếu là ở nhà chứ không đi bầu. Họ đã làm thế không phải vì họ bất mãn ai hay ngu dốt, bất cần, mà vì họ đã quá ngán ngẩm. Các ứng cử viên và cả hai đảng không còn gì để nói với các công dân đất nước này nữa. Đảng Dân chủ hay Cộng hòa gì thì cũng giống nhau cả, có bỏ phiếu cũng chẳng giúp cải thiện được cuộc sống của họ một tí nào” (tr.15).

Nuoc My cua toi dau roi
Thế nhưng, Moore cũng đủ tỉnh táo để ghi nhận những địa chấn cho dù là không lớn lắm. Nước Mỹ của Moore không chỉ gồm toàn những “công dân - phỗng đá” . Moore viết: “Nhiều công dân không chịu chây lười để mặc cho đất nước đi xuống. Tháng 10-1995, một triệu người Mỹ gốc châu Phi đã tuần hành tại Washington D.C. nhằm đánh thức nước Mỹ về sự hiện diện của họ. Vấn đề là họ đã đưa ra một tuyên cáo qua cuộc tuần hành đó.

Nếu so với tỉ lệ người Mỹ da trắng thì số người tuần hành hôm đó tương đương 8 triệu người. Một con số mà qui mô đủ ấn tượng để làm nước Mỹ da trắng run rẩy” (sđd tr.17).
Điều gì đã khiến bộ phận dân chúng Mỹ mà Moore ghi nhận chán ngán? Câu trả lời khá đơn giản: “Hôm qua bố mẹ tôi gọi cho tôi, báo rằng Hãng GM vừa loan báo đóng cửa hai nhà máy ở quê tôi. Lại thêm 3.000 cuộc sống khác bị tan tác” (sđd tr.18).

Thất nghiệp ở Mỹ không hẳn là cao lắm, chỉ 5,6%, tổng cộng là 8,2 triệu người thất nghiệp (số liệu Department of Labor, 5-2004), song không hẳn đã làm yên lòng người dân: phân bố lao động/thu nhập không đồng đều theo khu vực địa lý, ngành nghề và thành phần dân số (màu da)/học vấn. Moore mô tả như sau:

“Tôi đoán chừng người Mỹ chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta là một dân tộc hào phóng, viện trợ cho người thiếu thốn ở nước ngoài cả tỉ đôla. Đúng vậy, trừ phi những kẻ thiếu thốn đó lại không đang cư ngụ ở Gary, tiểu bang Indiana. Hoặc ở Appalachia. Hay ở Jersey City. Ây vậy mà chúng ta lại đang cộc cằn đối xử đối với chính nhân dân chúng ta! Chúng ta mất hết lý trí đến nỗi cắt đi mọi an sinh xã hội, tem phiếu lương thực, trợ cấp nhà ở. Nếu bạn đang sống ở Michigan, ngài thống đốc ở đó đang buộc bạn đứng dậy đi làm chỉ 12 tuần sau khi sinh. Ây vậy mà ông ấy là dân Công giáo đấy nhé. Tôi thật điếng người khi đọc một tài liệu nói rằng các điều kiện sống ở một vài vùng tại Hoa Kỳ “bắt đầu giống như ở các nước thế giới thứ ba”.

Hãy lấy thí dụ TP Baltimore, tiểu bang Maryland. Do lẽ chỉ 56% trẻ em ở đây được chủng ngừa, nên thị trưởng thành phố này đã kêu gọi đến Cơ quan USAID (Cơ quan Viện trợ Mỹ cho nước ngoài).

Năm 1994, cơ quan này đưa chín quan chức y tế thành phố này đến Kenya và Jamaica xem các nước này làm gì để hoàn thành mục tiêu gần 100% trẻ em được chủng ngừa. Sau khi trở lại Baltimore, họ đã đem áp dụng những gì đã học ở thế giới thứ ba và sau đó đạt tỉ lệ 96% trẻ em được chủng ngừa.

USAID cũng đã hỗ trợ các dự án nhà ở Washington D.C., và cung cấp tư vấn dịch vụ công cộng cho các công nhân nghèo ở Boston, Seatle cùng một số thành phố khác ở Hoa Kỳ.

Điều này khiến tôi suy nghĩ. Nếu chính phủ chúng ta chấp nhận những điều kiện sống trong các thành phố của chúng ta cũng giống như ở các nước thế giới thứ ba, thì các thành phố đó cũng đáng nhận viện trợ của USAID chứ không từ thủ đô Washington, được đấy chứ! Và rằng nếu Canada và Áo hoặc Ireland hằng năm viện trợ hằng tỉ đôla cho thế giới thứ ba, có lẽ họ cũng nên gửi viện trợ cho chúng ta” (sđd tr. 77,78,79).

Có thể chính trong những điều kiện sống như thế đã nảy sinh những kẻ hoặc giận quá hóa điên mà đòi ám sát tổng thống. Ngay từ thời Clinton chứ chẳng đợi đến trào Bush, Moore đã lên danh sách những mối “ân oán” nhắm vào ông Clinton: “Cơ quan mật vụ (Secret Service, là cơ quan lo bảo vệ yếu nhân, đặc biệt là tổng thống và phó tổng thống) cho biết ông Clinton đã là mục tiêu của ít nhất khoảng 1.500 vụ đe dọa sinh mạng mỗi năm và con số này càng gia tăng kể từ năm 1994. Clinton dường như “có số” trở thành vị tổng thống - mục tiêu số một chưa từng thấy trong lịch sử. Cứ năm tiếng đồng hồ, Clinton lại nhận được một cái mà cơ quan mật vụ gọi là “đe dọa nghiêm trọng”. Một vài vụ điển hình:

- Frank Corder đánh cắp một máy bay Cessna, bay đến Nhà Trắng, đâm vào một bức tường chỉ cách phòng ngủ của tổng thống có 30 bộ (khoảng 10m hơn).

- Francisco Duran, từ vỉa hè dọc đại lộ Pennsylvania, rút ra một khẩu súng bán tự động nã 29 viên đạn vào Nhà Trắng vào lúc ông Clinton đang xem bóng bầu dục trên tivi.

- Leland William Modjeski trèo qua hàng rào Nhà Trắng và lọt vào trong đến 50 bộ (khoảng 18m) thì bị nhân viên mật vụ chặn lại. Một nhân viên mật vụ bị trúng đạn do súng của một nhân viên khác “cướp cò”.

- Marcelion Corniel, một kẻ vô gia cư, vừa rút dao ra ở phía trước Nhà Trắng thì bị nhân viên mật vụ bắn hạ.

... Danh sách còn dài (sđd ,tr.92, 93).

Rõ ràng là Michael Moore chẳng “tư thù” gì ông Bush cả. Năm 1996 đó, đối tượng của ông là ông Clinton. Năm nay là ông Bush. Chẳng thiên vị gì ai. Bằng cớ là Moore đã thuật lại lá phiếu của mình dành cho ông Clinton như sau: “Bill Clinton là ứng cử viên của một đảng lớn đầu tiên mà từ lâu nay tôi mới bỏ phiếu. Chính xác hơn, tôi đã chẳng bỏ phiếu cho ông ấy mà là con gái tôi, Nathalie. Năm đó, Nathalie mới lên 11, muốn xem phòng phiếu là cái giống gì, thế nên tôi mới cho cháu vào theo và... cháu đã gạt cái cần bỏ phiếu... của ông Clinton. Thật là phi pháp khi để cho trẻ con bỏ phiếu. Song tôi cần phải nói rằng tay tôi không có vấy máu: tôi đã chẳng hề bỏ phiếu cho Clinton” (tr. 167,168).

Thời Clinton, Moore đã “xiên xỏ” rồi. Thế cho nên, nếu như ông Bush nay có bị Moore xiên xỏ, chẳng qua do ông Bush nay có nhiều chuyện không tương hợp với “lương tâm xã hội” hơn trước.

Đối với Moore, Bush đã không muốn dân chúng biết được sự thật đằng sau câu hỏi: “Tại sao ngày 11-9 đã lại xảy ra một cách tồi tệ như thế?”.

Moore viết: Dân Mỹ rất tha thứ. Họ đã chẳng tha thứ cho Franklin Roosevelt về việc để cho Trân Châu cảng bị tấn công ư? Cho John F. Kennedy sau thảm bại vịnh Con Heo sao? Họ cũng bất cần hỏi tội Bill Clinton tại sao 47 người bị giết một cách bí mật (vụ giáo phái Davidian). Vậy thì, sau vụ 11-9 an ninh quốc gia để “lọt lưới”, Bush đã lại không “sạch sẽ “ ngưng cái trò cấm đoán sự thật được công bố? (Dude, Where’s my country?, tr.4).

Moore đã “bực” Bush vì với Bush nước Mỹ của Moore “ăn đòn” nhiều hơn và một cách “vô lý” hơn. Moore luận như sau về khủng bố:

“Khi ta nói đến bọn khủng bố, ta cần chấp nhận rằng đa số hành động bạo lực kinh hoàng đều là từ trong nước chúng ta và đa số kẻ khủng bố đều lớn lên trong đất nước này. Hãy ngưng nghĩ rằng chỉ có thể là bọn ngoại quốc. Thi thoảng lắm mới có một trường hợp như thế. Thường thì đó là một kẻ mà bạn quen biết, có khi đang ngồi cụng ly với bạn đấy. Chúng ta có những “kẻ khủng bố từ trong nội bộ chúng ta” cần phải giải quyết.

Chúng ta cần được bảo vệ chống lại những tay triệu phú, những công ty “khủng bố” của chúng ta, những kẻ cướp đoạt tiền hưu trí của người già (cắt giảm “tiền già” để giảm thuế cho các công ty), tước đoạt công ăn việc làm tùy thích (khi muốn đóng cửa hãng, ra nước ngoài đầu tư).

Ta gọi con số 19% người vô gia cư và nghèo đói mới gia tăng từ năm 2001 - 2002 là gì đây? Đó không phải là những hành động khủng bố sao? Không gây tổn thất con người sao? Đó chẳng phải là nằm trong một kế hoạch tính toán sẵn nhằm gây đau khổ cho người nghèo và người lao động nghèo, để cho chỉ một dúm người giàu mới có thể giàu hơn?

Đó chính là những (nguồn gốc) khủng bố mà chúng ta cần đối đầu để cho có một ngày nào đó đất nước này an toàn hơn, an bình hơn do người giàu biết chia sẻ với người nghèo trên thế giới, để cho mỗi khi bắt tay nhau là vì thật lòng, và để cho lúc đó điều duy nhất chúng ta cần phải sợ là sự sợ hãi, nghĩa là chẳng còn phải sợ hãi)” (sđd, tr.115,116,117).

Đến đây có thể viết thêm cùng với Michael Moore. Sợ hãi phải chăng đang trở thành tâm lý “chủ đạo” trong đời sống Hoa Kỳ, bắt đầu từ bộ máy công quyền lan đến người dân? Sợ hãi từ trong ra ngoài, thậm chí xuất khẩu sang nước khác. Bằng cớ là mẩu “lưu ý” đính kèm theo thiệp mời dự buổi chiêu đãi mừng quốc khánh Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ tại TP.HCM:

“- Vui lòng mang theo thiệp mời và một giấy tờ tùy thân có dán ảnh.
- Do tình hình an ninh trên thế giới hiện nay và để bảo đảm an toàn cho quí khách, các biện pháp kiểm tra an ninh như tại sân bay sẽ được áp dụng...
- Xin quí khách vui lòng không mang theo máy chụp hình...”.

Khách mời rất thông cảm với “chủ tiệc”. Rất hiểu rằng bọn khủng bố có thể biến một cái máy chụp hình thành một khẩu súng hay một quả bom kích hỏa bằng hẹn giờ (khoảng chục giây, đủ để cao chạy xa bay) trên máy hay điều khiển từ xa bằng cái remote control của máy.

Thế nhưng, nhìn hàng rào cọc bêtông chống (xe tải chở chất nổ lao vào) khủng bố vừa được dựng chung quanh tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ trên đường Lê Duẩn cho kịp buổi tiếp tân được tổ chức sớm hai ngày (giống như chuyển giao quyền lực sớm hai ngày ở Iraq) vào tối 2-7-2004, không thể không chạnh lòng: “Tại sao lại phải sợ hãi đến thế? Làm gì nên nông nỗi?” .

Thật vậy, nếu nhìn sang các tổng lãnh sự quán khác, kể cả sát bên cạnh, không thể không đặt câu hỏi: tại sao tọa lạc trên cùng một con đường, trong cùng một thành phố, trong cùng một nước chủ nhà, mà ở đây lại nơm nớp phòng thủ, ở kia lại thanh bình (chẳng rào chắn gì) và thanh thản?

Sự tương phản trong thái độ và hành vi phải chăng cho thấy có “một thế giới không an ninh” như theo thiệp mời, và “một thế giới an ninh cho thế giới còn lại”?

HỮU NGHỊ

Việt Báo
contentlength: 16150
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

VẤN ĐỀ THế GIớI NÓNG NHẤT

Chay Nha tho Duc Ba Paris

Cháy Nhà thờ Đức Bà Paris

Vụ cháy không gây thiệt hại về người nhưng đã phá huỷ nghiêm trọng công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới - Nhà thờ Đức Bà Paris.

152 du khach Viet mat tich o Dai Loan

152 du khách Việt mất tích ở Đài Loan

Giới chức Đài Loan ngày 25/12 xác nhận rằng họ đã mất liên lạc với 152 du khách Việt Nam sau khi những người này tới sân bay thành..