Cây đàn xưa và những lá thư tình bất diệt - Kỳ 1

11:46 30/04/2007
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Chị Phan Thị Quyên ngày nào trong tác phẩm Sống như anh của nhà văn Trần Đình Vân giờ tóc đã hoa râm, nhưng dường như chị không quên bất cứ một chi tiết nào về chuyện tình với anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi...

“Em ráng mỗi ngày uống hai lít nước”

Cay dan xua va nhung la thu tinh bat diet Ky 1
Anh Trỗi hiên ngang tại pháp trường

“Tôi gặp anh Trỗi vào một ngày thứ Bảy của tháng Giêng năm 1963, sau Tết âm lịch. Chị anh làm cùng với tôi đã giới thiệu anh gặp tôi.

Nói thật, thoạt đầu tôi thấy anh không cuốn hút lắm. Anh mặc áo sơ mi trắng, quần ka ki, ống rộng cỡ 24 phân, thắt lưng đeo một chùm chìa khóa. Hồi đó mốt của thanh niên Sài Gòn là quần ống túm.

Tôi lúc ấy là một thiếu nữ hay mơ mộng nên thấy cách ăn mặc của anh không giống như mình hình dung. Nhưng thực sự anh Trỗi rất đẹp trai, anh cao dong dỏng, nước da trắng, môi hồng.

Trước khi gặp anh, chị anh đọc một câu thơ: “Chim quyên trỗi giọng oanh vàng”, và bảo câu thơ này có tên của cả hai đứa. Tôi đoán chắc anh tên “Oanh, tên “Vàng” chứ không nghĩ anh tên Trỗi. Khi gặp nhau, anh ấy bảo, anh là con thứ tư trong gia đình, nên cứ gọi anh là Tư”.

Sau “cái buổi ban đầu lưu luyến ấy”, họ gặp nhau thường xuyên. Khi chị tan ca ở nhà máy dệt kim Bạch Tuyết, anh Trỗi thường đến đón chị. Quen một thời gian, nhưng anh ít khi biểu lộ tình cảm của mình bằng những lời có cánh như nhiều chàng trai khác mà thường chỉ lặng lẽ quan tâm, chăm sóc chị.

Ngày 16/3/1963, chị được đi nghỉ mát Vũng Tàu với các đồng nghiệp. Trước khi đi, anh dặn chị: “Quyên đi biển thì nhớ mang theo áo ấm và lọ dầu gió”.

Biển Vũng Tàu, tối thứ Bảy người ta đi chơi với nhau, chị nằm một mình trong phòng. Buồn tênh. Chị chợt nghĩ: “Nếu anh Trỗi không thương mình chắc anh không dặn dò cẩn thận như vậy”.

Một lần, gần nhà chị có một ngôi nhà bị cháy. Chị tình cờ chứng kiến một người đàn ông đang đi đường thấy cảnh lửa bốc cháy dữ dội đã lao vào dập. Người đàn ông ấy chính là anh Trỗi. Tình yêu trong chị với anh cứ thế được nhen lên.

Biết chị có thói quen ít uống nước, anh về quê ở Thanh Quýt (Điện Bàn, Quảng Nam) vẫn viết thư ra dặn chị: “Chúc em ăn ngon, ngủ nhiều và ráng uống mỗi ngày hai lít nước”. (Bức thư đề ngày 7/4/1963). Đó là lần đầu tiên anh Tư gọi chị bằng em. Và cũng là lần đầu tiên chị hay tên anh là Nguyễn Văn Trỗi nhờ ký tên phía dưới.

Lần về quê ấy, anh mua tặng chị hai chục đôi đũa nứa và chiếc nón bài thơ Huế với hai câu thơ: “Bước chân ra đất Thần Kinh/ Mua về chiếc nón tâm tình tặng em”. Chị nói đùa: “Quyên thích đũa mun mà Tư mua đũa nứa?”. Anh lặng lẽ đem cất rồi nói: “Quyên chê đũa xấu, mai mốt Tư cho vợ Tư xài”.

Tưởng anh nói đùa vậy nhưng không ngờ đến ngày cưới nhau, anh lặng lẽ mang bó đũa nứa ra và nói: “Năm ngoái anh về quê mang vô bó đũa tặng cô bạn gái, cô ấy chê nên anh ghét quá bảo mang về để mai mốt vợ anh xài. Chị giật mình bảo: “Anh này ghê thật”. Anh cười: “Ủa em cũng biết cô đó à?”

Lễ cưới của họ diễn ra theo phong tục miền Bắc vì ba mẹ chị vốn quê gốc ở Hà Tây. Quyên là cô con gái đầu tiên của gia đình “lấy chồng thiên hạ” và gả trên đất Sài Gòn nên mẹ cô yêu cầu anh Trỗi chuẩn bị lễ ăn hỏi 250 phần quà để biếu dân làng.

Anh Trỗi tuy nghèo nhưng cũng cố mua một đôi nhẫn cưới bằng vàng cho hai người. Sau đám cưới giản dị, họ về sống với nhau êm đềm hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc ấy chỉ được tính bằng ngày, chính xác là 19 ngày.

“Có cái chết hóa thành bất tử”

Ngày 30/6/1965, Phan Thị Quyên được cử về T.Ư Hội liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong thời gian công tác tại đây (đến tháng 5/1969) chị học các lớp y tá, y sĩ, giữ chức vụ Tổ trưởng Tổ Y tế, Phó bí thư chi đoàn của cơ quan.

Ngày 13/5/1969, chị được lệnh ra Bắc, về Ban Thống nhất Trung ương để bồi dưỡng và đi công tác nước ngoài.

Từ tháng 01/1970 đến tháng 6/1973, chị học văn hóa tại Trường phổ thông lao động T.Ư và tham gia đoàn công tác đại diện cho phụ nữ Việt Nam sang thăm các nước Cuba, Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Phần Lan.

Chị nhớ mãi ngày hôm đó. Ngày thứ 19 kể từ khi hai người thành vợ chồng. Chiều 9/5/1964 hôm đó, anh Trỗi đi làm về, hỏi vợ: “Cơm chín chưa em, nếu chín rồi dọn cơm ăn sớm nhé, anh phải đi có việc”. Khi ăn cơm, thấy chị có vẻ uể oải, anh hỏi: “Em làm sao thế?”.

Chị bảo: “Em bị viêm họng, ăn không thấy ngon”. Anh lo lắng: “Em lấy lá mơ nấu nước uống sẽ hạ sốt ngay”.

Dù đang vội, ăn cơm xong, anh ra bờ rào hái một nắm lá mơ bỏ vào nồi cho lên bếp và dặn: “Em nhớ lấy thuốc uống nhé”.

Anh dắt xe đạp đi. Khoảng 20 giờ, anh về. Thấy chị nằm trên chiếc chõng ngoài hè, anh sờ tay lên trán chị. Trán chị nóng hầm hập. Anh bảo: “Em vô nhà nằm đi”. Anh mắc màn cho chị. Từ khi lấy nhau, đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng anh mắc màn (anh có thói quen ngủ không mắc màn).

Anh đổi xe đạp, lấy xe máy dắt ra ngõ và dặn chị:“Anh đi một lúc anh về”. Chị nằm thiếp đi, đến lúc tỉnh dậy nhìn đồng hồ đã 2 giờ sáng. Không thấy anh nằm cạnh như mọi khi. Chị giật mình, bật dậy hỏi thím Ba - hàng xóm: “Thím Ba ơi, anh Tư đi đâu mà chưa thấy về?”.

Thím Ba trấn an: “Con đừng lo, chắc thằng Tư nó gặp bạn bè rồi ngồi với nhau thôi”. Chị nghĩ anh bị bắt vì trốn quân dịch. Từ đó đến sáng, chị chẳng thể chợp mắt.

8 giờ sáng hôm sau, anh về trong tình trạng bị trói. Một tốp lính ngụy hung hãn xông vào nhà lục soát. Chúng lấy máy dò mìn dò khắp nhà. Chị bàng hoàng chẳng hiểu chuyện gì xẩy ra. Anh đã làm gì để đến nông nỗi này? Anh bảo: “Em đừng buồn, anh chẳng có tội gì hết”. Trước khi giải anh đi, tốp lính còn giật theo tấm ảnh cưới của hai người.

Chị không hề biết, đêm hôm trước anh Trỗi đặt mìn ở cầu Công Lý, mưu sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNarama. Việc không thành nhưng đã gây tiếng vang trên toàn thế giới.

Ít ngày sau, chị cũng bị quân đội Sài Gòn bắt, đưa về giam ở Tổng nha Cảnh sát. Chị ở cùng buồng với chị Trương Mỹ Hoa, nay là Phó Chủ tịch nước. Lúc đó, chị chẳng hiểu gì về cách mạng hay Việt Cộng và cũng chẳng hay về việc làm của chồng mình. Chị Trương Mỹ Hoa – nhân vật Y trong tác phẩm Sống như anh, đã giác ngộ cách mạng cho chị, giải thích cho người vợ trẻ này hiểu việc làm của chồng mình là chính nghĩa, là yêu nước.

Bắt giam chị một tháng nhưng không có bằng chứng để kết tội, chị Quyên được trả tự do. Lúc đó, toà án của chính quyền Sài Gòn xử anh Nguyễn Văn Trỗi án tử hình.

Trong những ngày xa cách anh, chị đã viết cho anh một lá thư tình bằng thơ. Bốn câu thơ được chị thêu bằng chỉ đỏ trên tấm khăn mùi xoa trắng: “Dù cho mưa gió bão bùng/ Lòng em vẫn giữ thủy chung vẹn toàn; Cầu mong anh được bình an/ Nước nhà thống nhất, vinh quang anh về”.

Chị vào thăm anh ở khám tử hình. Anh gầy hơn nhưng gương mặt vẫn ánh lên nụ cười lạc quan. Anh bảo: “Anh em ở trong này thêu đẹp lắm, lần sau em mua vải và chỉ vô để anh thêu nhé. Thấy chị xanh xao, anh hỏi: “Em có bầu à?”.

Chị lắc đầu. Chị cố kìm tiếng khóc vì đã nói dối anh. Chị đã có bầu nhưng những ngày cơ cực trong tù, những lần đạp xe mệt nhọc giữa nắng nóng Sài Gòn cộng với nỗi đau chồng bị kết án tử hình đã khiến cho cái thai gần 3 tháng bị hỏng.

Chị nhớ ngày 7/10/1964, báo chí Sài Gòn đưa tin sẽ đưa anh Trỗi ra xử tử hình. Sau đó báo chí lại cho biết một tổ chức du kích ở Venezuela tuyên bố trao đổi Nguyễn Văn Trỗi lấy một con tin là trung tá Michael Smolen mà họ vừa bắt được. Vì thế việc xử tử anh sẽ hoãn vô thời hạn...

Còn nữa

Phùng Nguyên - Công Trọng

Việt Báo
contentlength: 11542
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Cậy đông vỗ mông mỹ nữ, dân chơi bị giang hồ đánh hội đồng nhừ tử​
00:00 / --:--