Ung Thư Cổ Tử Cung

08:07 19/03/2011

Ung Thư Cổ Tử Cung Ung Thư Của Cổ Tử Cung . Đây là loại ung thư phụ nữ thường gặp, đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư vú. Theo các nghiên cứu ung thư tại Việt Nam thì trong các ung thư ở phụ nữ, Ung Thư Cổ Tử Cung đứng hàng thứ hai sau ung thư vú tại Hà Nội và đứng đầu tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

Dịch tễ

Tuổi thường gặp Ung Thư Cổ Tử Cung là 30-59, đỉnh cao là 48-52 tuổi. Có thể nhận thấy là đỉnh của Ung Thư Cổ Tử Cung muộn hơn tân sinh cổ tử cung khoảng 10-15 năm.

Những yếu tố thuận lợi cho Ung Thư Cổ Tử Cung cũng là những yếu tố thuận lợi cho tân sinh trong biểu mô cổ tử cung.

Sinh bệnh học

Tân sinh trong biểu mô cổ tử cung là một tổn thương tiền ung. Một tỷ lệ các trường hợp này sẽ tiến triển thành ung thư cổ tử cung, trong đó CIN III có khả năng dẫn đến ung thư xâm nhiễm cao nhất.

Ung thư tại chỗ (carcinoma in situ) là tình trạng nghịch sản ở toàn bộ bề dày lớp biểu mô. Những tế bào của carcinoma tại chỗ sẽ xâm lấn vào mô liên kết, chiều hướng lan rộng dọc theo màng đáy, và trở thành carcinoma xâm lấn. Người ta cho rằng ung thư xâm lấn là kết quả của tiến trình từ nghịch sản cổ tử cung (CIN) trong mọi trường hợp, mặc dù điều này chưa được chứng minh là chân lý.

Giải phẫu bệnh

Đại thể

Giai đoạn đầu, thường không có triệu chứng gì rõ rệt. Có thể là một lở loét nhẹ khi nhìn qua mỏ vịt.

Tiến triển, có 3 hình dạng đại thể khác nhau:

  • Dạng chồi (sùi): mọc lòi vào kênh âm đạo, có thể lấp đầy nửa trên âm đạo, đôi khi bị bội nhiễm và hoại tử.
  • Dạng thâm nhiễm (ăn cứng): xuất phát từ kênh cổ tử cung và hướng tới ăn cứng toàn thể cổ tử cung.
  • Dạng loét: hủy hoại cấu trúc cổ tử cung và sớm ăn lan vào túi cùng âm đạo.

Vi thể

  • Nghịch sản cổ tử cung (CIN): dị dạng tế bào xảy ra ở biểu mô cổ tử cung, thường được phát hiện bằng phết tế bào cổ tử cung, và chia làm 3 độ. CIN là chỉ dành cho tế bào biểu mô lát.
  • Carcinoma tế bào biểu mô lát (tế bào biểu mô vẩy, tế bào biểu mô gai): chiếm 95-97%.

Trong đó có carcinoma in situ: hội đủ các tính năng và sự dị dạng của tế bào dày đặc trong lớp biểu mô nhưng chưa qua khỏi màng đáy.

  • Carcinoma tế bào tuyến: chiếm tỉ lệ khoảng 5%, thường gặp ở người trẻ tuổi, xuất hiện từ lỗ trong cổ tử cung ăn lan ra cổ ngoài. Tiên lượng thường xấu hơn ung thư tế bào biểu mô lát.

Diễn tiến

  • Bướu nguyên phát xâm nhiễm theo các ngã:

Đến các túi cùng và âm đạo: thường nhất

Đến thân tử cung: ít gặp

Xâm nhiễm vách âm đạo trực tràng: giai đoạn muộn

Đến chu cung (mô cạnh tử cung): nguy hiểm vì đe dọa niệu quản.

  • Di căn hạch: theo đường dẫn lưu bạch huyết của chu cung, đến chuỗi hạch hông ngoài và hông trong. Hạch thường bị xâm nhiễm nhất là hạch bịt.
  • Di căn xa theo đường máu thì hiếm.

Chẩn đoán

Tình huống lâm sàng

  • Sớm: thường phát hiện thông qua xét nghiệm PAP.
  • Thường gặp: Xuất huyết âm đạo bất thường: ra huyết giữa 2 kỳ kinh hoặc ra huyết khi giao hợp.
  • Tình huống trễ:

Huyết trắng lẫn lộn huyết đỏ

Đau bụng vùng chậu

Chảy nước tiểu hoặc phân qua ngã âm đạo (dò bàng quang – âm đạo, dò trực tràng – âm đạo)

Sụt cân, suy nhược cơ thể

Hạch trên đòn.

Phương tiện chẩn đoán

Tế bào biểu mô lát ác tính trong Ung Thư Cổ Tử Cung

  • Pap smear
  • Soi cổ tử cung
  • Sinh thiết cổ tử cung
  • Khoét chóp cổ tử cung: cắt đoạn cổ tử cung để thử giải phẫu bệnh lý. Đây vừa là một xét nghiệm chẩn đoán đồng thời cũng là một phương pháp điều trị cho những trường hợp Ung Thư Cổ Tử Cung giai đoạn sớm (carcinoma in situ).
  • Nạo sinh thiết từng phần (trong đó có nạo kênh và lòng tử cung để sinh thiết): mục đích để đánh giá nội mạc tử cung nhất là vùng gần lỗ cổ tử cung.
  • Những xét nghiệm khác có thể thực hiện: soi lòng tử cung, chụp X-quang buồng tử cung.

Đánh giá chức năng thận, gan, phổi... trong trường hợp ung thư tiến xa.

Điều trị

Ung Thư Cổ Tử Cung giai đoạn sớm

Giai đoạn I, II

  • Giai đoạn IA: ung thư được xác định bằng vi thể (bướu nhỏ hơn 2 mm), điều trị là cắt tử cung, có thể kết hợp nạo hạch chọn lọc. Nếu hạch bị xâm lấn, ung thư được điều trị như giai đoạn IB
  • Giai đoan IB: phẫu thuật tận gốc - cắt tử cung theo phương pháp Wertheim Meiges bao gồm cắt tử cung, một phần âm đạo, chu cung, và nạo vét hạch chậu hai bên.
  • Giai đoạn II: Phẫu thuật Wertheim Meigs và cắt toàn bộ âm đạo trong giai đoạn IIA.

Thông thường giai đoạn này kết hợp xạ - phẫu - xạ.

  • Giai đoạn III và IV: (giai đoạn III – ung thư đã ăn lan đến 1/3 dưới của âm đạo), thường quá chỉ định phẫu thuật. Điều trị chủ yếu là xạ trị - hoá trị để giảm triệu chứng.

Tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung

Tại sao tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung:

  • Ung Thư Cổ Tử Cung có tỉ lệ mắc bệnh cao, đồng thời tỉ lệ tử vong cũng cao khi phát hiện ở giai đoạn muộn.
  • Có thể phát hiện ở giai đoạn tiền lâm sàng, và thời gian từ giai đoạn này đến giai đoạn biểu hiện lâm sàng khá lâu, trung bình là 10-15 năm từ khi có nghịch sản cổ tử cung đến Ung Thư Cổ Tử Cung.
  • Giai đoạn nghịch sản cổ tử cung, khả năng điều trị thành công cao và điều trị đơn giản, ít tốn kém hơn nhiều so với ung thư giai đoạn tiến triển.

Phết tế bào cổ tử cung là một test dùng để tầm soát khá đơn giản, độ nhạy và đặc hiệu cũng tương đối, giá thành rẻ, ít gây khó chịu hay bất tiện cho bệnh nhân, ít xâm lấn. Soi cổ tử cung và sinh thiết cổ tử cung là những xét nghiệm tiếp theo dùng để chẩn đoán sớm khi kết quả phết tế bào bất thường.

Tiên lượng

  • Giai đoạn 1: tỉ lệ sống còn sau 5 năm khoảng 90%
  • Giai đoạn 2: khoảng 75%
  • Giai đoạn 3: khoảng 40%
  • Giai đoạn 4: khoảng 10%


1. Cơ chế bệnh sinh nhiễm HPV:

HPV là một loại virus DNA không có vỏ bọc cùng nhóm với adenovirus hay parvovirus (nhóm parvovavirus). Virus có một lớp bao protein với một số gen được phát hiện có tính sinh miễn dịch (L1, L2) hay gây Ung Thư Cổ Tử Cung (E6, E7).

Các gen có tính gây ung thư tác động vào các gen của tế bào chủ vốn làm nhiệm vụ ức chế quá trình phát triển của tế bào (p53 và RB); do đó sẽ gây ra sự phát triển hỗn lọan của nhóm tế bào bị nhiễm. Không phải nhiễm HPV là sẽ có Ung Thư Cổ Tử Cung. Nhiễm HPV bất kỳ thuộc nhóm nào đều có khả năng tự lui bệnh đến hết hẳn và không để lại di chứng gì cho người bị nhiễm. Một số trường hợp nhiễm kéo dài, đặc biệt do nhóm nguy cơ cao, sẽ gây ra các tổn thương về phát triển mô học của cổ tử cung (dị sản xếp theo thứ tự nhẹ, vừa, nặng). Hơn phân nửa các trường hợp dị sản nhẹ có khả năng tự thóai lui; 10% các trường hợp dị sản nặng hay vừa có khả năng tiến triển nặng hơn trong 2-4 năm; khỏang 50% dị sản nặng sẽ trở thành ung thư tại chỗ cổ tử cung, đặc biệt khả năng này ít gặp ở người trẻ tuổi.

HPV tác động chủ yếu vào các tế bào biểu mô lát tầng không sừng hóa của cổ tử cung tại nơi tiếp giáp giữa cổ trong và cổ ngòai (nơi tiếp giáp 2 lọai mô khác nhau: biểu mô tế bào trụ tuyến và biểu mô lát tầng không sừng hóa). Biểu mô lát tầng không sừng hóa vốn được tổ chức với chức năng che chở, bảo vệ và được qui định sẽ phát triển dần lên hướng bề mặt và sau đó sẽ được bong ra ngòai. Virus sẽ tấn công vào lớp tế bào đáy của biểu mô vốn có khả năng sinh sản cao và gây ra hiện tượng phát triển mạnh hơn bình thường của 1 rồi nhiều lớp tế bào sau đó. Khi tế bào bất  ung thư thường chiếm toàn bộ các lớp của tế bào biểu mô lát (dị sản nặng  tại chỗ), sẽ có khả năng phát triển lan rộng khỏi màng đáy vào các lớp sâu hơn biểu mô lát và hình thành Ung Thư Cổ Tử Cung giai đoạn xâm lấn. Tuy nhiên, những tổn thương ban đầu chỉ xảy ra tại biểu mô lát vốn không có tiếp xúc mạch máu, HPV hầu như chỉ hiện diện tại chỗ và không đi vào máu, do đó không gây ra tình trạng viêm, không hoạt hóa hệ miễn dịch, và hầu như không gây miễn nhiễm sau khi đã nhiễm tự nhiên HPV. Ngày nay, có một số ít bằng chứng cho thấy dường như cũng có vai trò miễn dịch trong nhiễm HPV mặc dù yếu ớt: những người có suy giảm miễn dịch sẽ dễ bị nhiễm HPV và khi đã nhiễm thì tiến triển sẽ nhanh và nặng nề; có gia tăng nồng độ kháng thể với HPV sau khi bị nhiễm tự nhiên tuy nhiên nồng độ kháng thể tỏ vẻ không đủ để gây miễn dịch.

Tổn thương dị sản hay Ung Thư Cổ Tử Cung có một thời gian dài phát triển tại biểu mô và tại chỗ cổ tử cung. Trung bình, có khoảng 10-20 năm cho sự tiến triển từ dị sản đến Ung Thư Cổ Tử Cung . Đây chính là thuận lợi cho việc tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung , giúp phát hiện sớm và điều trị những tổn thương dị sản cũng như ung thư giai đọan sớm.

Có những yếu tố tạo thuận lợi cho tiến triển Ung Thư Cổ Tử Cung từ nhiễm HPV: sanh nhiều, giao hợp sớm, nhiều bạn tình, thuốc lá… Việc sử dụng nội tiết sinh dục nữ (trong thuốc ngừa thai dạng uống) lâu năm dường như làm tăng nhẹ tình trạng nhiễm HPV kéo dài và làm tăng khả năng Ung Thư Cổ Tử Cung do HPV. Tuy nhiên, bằng chứng còn chưa đủ mạnh, và hơn nữa cân nhắc với lợi ích của việc ngừa thai hiệu quả bằng nội tiết tố, tránh được thai kỳ không mong muốn, tránh hậu quả phá thai hay bệnh lý mẹ do thai kỳ, thuốc ngừa thai dạng uống vẫn cần được khuyến khích sử dụng.

2. Tầm sóat HPV - Tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung:

Kiểm soát một bệnh lý bất kỳ trong cộng đồng bao gồm nhiều cấp: cấp 1 - ngăn ngừa hay loại trừ khả năng gây bệnh của các tác nhân có thể là lý do gây bệnh, cấp 2 - phát hiện sớm bệnh hay những nhóm người có nhiều khả năng bị bệnh, cấp 3 - điều trị hiệu quả khi có bệnh lý và muộn hơn là những điều trị nâng đỡ khi bệnh lý đã quá trầm trọng.

Công việc tầm soát ung thư cổ tử cung, tức là sàng lọc những nhóm người có nhiều nguy cơ bị Ung Thư Cổ Tử Cung để tiến hành những khảo sát sâu hơn nhằm phát hiện sớm và điều trị hiệu quả ung thư giai đọan sớm hay các tổn thương tiền ung thư.

Xét nghiệm PAP (pap’s smear) hay còn gọi là phết tế bào âm đạo - cổ tử cung, do bác sĩ người Hy lạp Nicolas George Papanicolaou phát minh từ những năm 20 và được áp dụng rộng rãi trên thế giới từ những năm 50 của thế kỷ trước. Đây là xét nghiệm đơn giản, rẻ tiền, không gây tác động trên người được làm, dễ áp dụng đại trà; và đó cũng là những lợi điểm cần có của một công cụ dùng trong tầm soát bệnh. Xét nghiệm nhằm mục đích thu thập những tế bào vùng cổ tử cung để xem xét hình thái tế bào hầu nhận định có hay không có những biến đổi bất thường, có nguy cơ ác tính hay ác tính. Độ nhạy (44-78%) và độ đặc hiệu (91-96%) của xét nghiệm thay đổi tùy theo nhiều điều kiện: chất lượng mẫu lấy, chất lượng người đọc mẫu, chất lượng vận chuyển, lưu trữ và xử lý mẫu.

Khuyến cáo của y tế thế giới 2005 về tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung đề nghị thực hiện xét nghiệm pap cho những phụ nữ đã có quan hệ tình dục: từ 30 tuổi hay sớm hơn nếu có nhiều nguy cơ, định kỳ mỗi 3 năm và kéo dài cho đến hết tuổi sinh sản, định kỳ mỗi 5 năm khi vào 50 tuổi và có thể chấm dứt vào 65 tuổi nếu trước đó đã có 2 kết quả xét nghiệm là bình thường. Nếu chỉ có cơ hội thực hiện xét nghiệm một vài lần trong cuộc đời thì nên thực hiện vào khỏang 35-45 tuổi.

Hiệu quả công việc tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung bằng xét nghiệm pap tùy thuộc vào độ bao phủ của vịêc tầm soát (số người trong cộng đồng được làm xét nghiệm càng cao thì số trường hợp phát hiện càng cao), qui trình tầm soát được kiểm tra chặt chẽ … Sau khi tầm soát, những trường bệnh lý (lành tính, nghi ngờ hay ác tính) cần được theo dõi và điều trị thích hợp. Do đó, một chương trình tầm soát đựơc xem là có hiệu quả khi phải đi kèm sau đó là qui trình theo dõi, chẩn đóan và điều trị khi có vấn đề bất thường.

Mặc dù đã chứng minh được vai trò to lớn của xét nghiệm pap, không phải tất cả phụ nữ trên thế giới đều được hưởng lợi ích này. Nhiều nước trong nhóm nước đang phát triển, nước nghèo khó, do nhu cầu sức khỏe cấp thiết của cộng đồng, do nguồn lực yếu kém, do hiểu biết chưa cao của người dân… vẫn chưa có một chương trình đúng nghĩa và có tầm cỡ quốc gia để tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung .

Xét nghiệm HPV có giá trị khác với xét nghiệm pap: với pap, ta có thể nói có hay không những tổn thương nghi ngờ hay ác tính trên cổ tử cung, trong khi đó, xét nghiệm HPV sẽ nói hiện tại có đang bị nhiễm HPV hay không, nếu có là nhóm nào - nguy cơ cao hay nguy cơ thấp. Như đã nói ở trên, nhiễm HPV không có nghĩa là ung thư cổ tử cung, việc nhận định có nhiễm hay không có có nhiễm HPV không nói được tình trạng mô học hiện tại của cổ tử cung (bình thường, nghi ngờ hay ác tính). Một kết quả xét nghiệm HPV âm tính chỉ có thể nói hiện tại người được thử không có tình trạng nhiễm HPV, nhưng không nói được trước kia đã bị nhiễm chưa và nếu có, hiện nay, liệu tình trạng nhiễm này đã đưa đến tổn thương cổ tử cung chưa. Một kết quả xét nghiệm HPV dương tính (thậm chí với HPV nguy cơ cao) chỉ nói được hiện tại người bị thử có tình trạng nhiễm HPV (không biết là sơ nhiễm, tái nhiễm hay nhiễm kéo dài), cũng không nói được tình trạng cổ tử cung hiện tại, càng không nói được có hay không có ung thư cổ tử cung trong tương lai.

Xét nghiệm HPV được sử dụng kèm với pap giúp nâng cao khả năng sàng lọc các trường hợp nghi ngờ, cũng như giúp quá trình theo dõi bệnh chặt chẽ hơn. Cho tới hiện nay, ngay tại các nước đã phát triển, vốn có một chương trình tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung có hiệu quả, vẫn khuyến cáo sử dụng xét nghiệm HPV cùng với xét nghiệm pap, pap vẫn là công cụ sàng lọc đại trà đầu tiên.

3. Vai trò của vaccine ngừa HPV:

Việc phát triển vaccine ngừa HPV nhằm bất hoạt khả năng tác động của HPV thuộc vào dự phòng bệnh tật cấp sơ khởi. Hiện tại, đã có 2 loại vaccine đã được công nhận tác động và cho phép sử dụng đại trà. Do HPV 16,18 là 2 nhóm chủ yếu gây ra >70% các trường hợp Ung Thư Cổ Tử Cung các vaccine chủ yếu nhằm tạo miễn dịch với 2 nhóm HPV này. Cervarix, chống HPV 16,18; Gardasil, chống HPV 16,18 và HPV 6,11 (nguyên nhân của 90% nhú sinh dục); cả hai sản phẩm đã qua giai đọan 2 thử nghiệm và được cho phép lưu hành trên người. Những theo dõi trên người sử dụng các vaccine này đã qua năm thứ 4 và cho thấy nồng độ kháng thể vẫn còn có hiệu quả bảo vệ với các nhóm HPV tương ứng.

Vaccine sử dụng các thành phần gây miễn dịch của virus (virus like particules) có chứa các gen L1,L2 của virus. Do đó, khi nhận liều vaccine, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ được kích họat, từ đó hình thành miễn dịch (qua tế bào và qua dịch thể) với nhóm HPV tương ứng. Kháng thể chống HPV và các tế bào miễn dịch với HPV sẽ thâm nhập qua biểu mô cổ tử cung (trụ và lát) và có tác dụng bảo vệ cho lớp tế bảo nhạy cảm với HPV tại cổ tử cung. Do không sử dụng các yếu tố gây ung thư, vaccine không gây các thay đổi bất thường trên tế bào cổ tử cung như khi bị nhiễm HPV.

Cách sử dụng được khuyến cáo: sử dụng trước khi có tiếp xúc với HPV, liều 0,1(2), 6 nghĩa là 3 mũi liên tiếp, lập lại sau 1(2) và 6 tháng, hiệu quả được biết cho tới 4 -5 năm. Việc có nhắc lại vaccine sau thời gian này hay không còn phải chờ vào các thử nghiệm đang làm, hiện đã theo dõi hơn 4 năm. Khuyến cáo nên tiêm cho thiếu nữ trẻ hay trẻ gái vị thành niên chưa có quan hệ tình dục, nhằm chuẩn bị đầy đủ miễn dịch, tránh tác động của HPV một khi có nhiễm HPV qua đường tình dục. Đối với phụ nữ lớn hơn, nếu xét nghiệm HPV âm tính, cũng có thể sử dụng; tuy nhiên, như đã nói, không loại trừ người đó đã từng nhiễm HPV thậm chí đã từng có tổn thương tại cổ tử cung do HPV, tác dụng của vaccine có vẻ không thuyết phục. Cho đến hiện nay, vaccine HPV vẫn được khẳng định là vaccine thuộc dạng phòng ngừa chứ không phải là vaccine điều trị, mặc dù có một số khảo sát cho thấy vaccine cũng có tác dụng làm thoái lui các tổn thương cổ tử cung do nhiễm HPV.

Một vấn đề chú ý là việc tiêm ngừa vaccine HPV có ý nghĩa hoàn toàn khác với tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung . Nếu cộng đồng các em thiếu nữ được miễn dịch hòan tòan với HPV, có nghĩa là đa số các em sẽ tránh được ung thư cổ tử cung; kết quả này chỉ thấy sau một thời gian dài áp dụng đồng bộ vaccine HPV cho các em gái. Cộng đồng phụ nữ lớn tuổi hơn, không được bảo vệ bằng vaccine, vẫn còn khả năng bị ung thư và chính chương trình tầm soát Ung Thư Cổ Tử Cung sẽ giúp phát hiện sớm và điều trị tích cực hiệu quả cho họ. Hơn nữa, cho tới nay, chỉ có vacinne cho 2 nhóm HPV nguy cơ cao là 16,18, nguyên nhân của 70% các Ung Thư Cổ Tử Cung, số trường hợp còn lại sẽ bị bỏ qua nếu chúng ta không có một chương trình tầm soát và điều trị ung thư có hiệu quả.

Việc phát hiện ra vai trò của HPV trong Ung Thư Cổ Tử Cung nói riêng và vai trò một số virus khác trong ung thư nói chung, đã mở ra nhiều hướng mới trong chẩn đóan, điều trị và phòng ngừa ung thư. Việc phát minh ra vacinne ngừa HPV hiện tại đã đem lại nhiều hy vọng trong vịêc khống chế Ung Thư Cổ Tử Cung, vốn là một trong những bệnh ung thư hàng đầu của phụ nữ. Các nghiên cứu về tác động của vaccine, mở rộng các chủng HPV cần phòng ngừa, cách sử dụng kinh tế và hiệu quả vaccine… vẫn đang được tiến hành và hứa hẹn còn nhiều phát hiện thú vị và ích lợi.

Ung Thư Cổ Tử Cung: 10 thắc mắc thường gặp

Theo một cuộc thăm dò mới đây được tiến hành tại Pháp, chúng ta không khỏi giật mình vì sự thiếu hiểu biết của nhiều người đối với bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung.

Dưới đây là trả lời những thắc mắc thường gặp về bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung:

1. Nguyên nhân gây bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung

Ung Thư Cổ Tử Cung là do quá trình viêm nhiễm kéo dài (khoảng 20 năm) các loại vi rút nhóm papilloma, còn được gọi là HPV (Human Papilloma vi rút). Loại vi rút này tập trung nhiều nhất vào những năm đầu sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên.

Những loại vi rút này sẽ bị “đánh bật” khỏi cơ thể trong vòng 12 - 24 tháng. Nhưng một số phụ nữ không thể loại bỏ được chúng và đây là nhóm người có nguy cơ mắc bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung về sau này.

Vi rút HPV lây lan qua đường tình dục. Không giống các bệnh lây qua truyền qua con đường này, bao cao su không thể bảo vệ nam giới hoàn toàn vì chỉ cần có sự tiếp xúc da với da ở khu vực này là đủ để nhiễm vi rút HPV.

Loại vi rút này có thể truyền từ nữ sang nam và ngược lại.

2. Tác hại của loại vi rút này đối với sức khỏe sau này? Liệu có thể chữa khỏi được hoàn toàn?

Những người mang trong mình vi rút HPV đều có thể phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe trong một thời gian ngắn hay lâu dài.

Trong một thời gian ngắn, loại vi rút này có thể gây ra những vết loét - yếu tố gây ra bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung sau này. Những vết thương này có thể được điều trị rất đơn giản: cắt một phần cổ tử cung. Tuy phương pháp điều trị này đơn giản nhưng nó có thể gây ra những biến chứng đối với phụ nữ sau này, khi mang thai: sảy thai hoặc đẻ non.

Sau khi cắt bỏ một phần cổ tử cung, vi rút HPV vẫn có thể quay trở lại và gây ra bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung sau nhiều năm. Đi khám bác sỹ thường xuyên sau phẫu thuật là điều bắt buộc phải làm.

3. Những tác động bên ngoài nào có thể là nguyên nhân gây nên bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung?

Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây nên căn bệnh này.

Ngoài ra những người mang căn bệnh thế kỷ AIDS hoặc dùng thuốc dành cho những người được ghép tủy.

4. Bệnh ung thử cổ tử cung có di truyền?

Không. Đây không phải loại bệnh di truyền.

5. Triệu chứng lâm sàng và dấu hiệu giúp phát hiện bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung ?

Khi có thể chẩn đoán bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung qua cảm quan thì những dấu hiệu lâm sàng rất đa dạng, tùy vào mức độ bệnh, bản chất của bệnh và giai đoạn phát triển của những khối u ác tính.

Những dấu hiệu sớm cho thấy cơ thể mắc căn bệnh này hầu như không có, đặc biệt là giai đoạn đầu (trước khi xuất hiện những khối u). Đôi khi dấu hiệu chỉ là những cơn đau xuất hiện khi quan hệ tình dục hoặc ngay cả lúc không quan hệ.

Khi đã nhìn thấy các khối u thì lúc này sức khỏe của người bệnh đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu khối u lớn, nó sẽ chèn ép các vùng xung quanh và gây ra hiện tượng tiểu buốt, hoặc đi tiểu khó khăn, táo bón...

6. Tuổi nào hay nhiễm vi rút này?

Vi rút HPV xuất hiện nhiều vào những lần quan hệ tình dục đầu tiên. Và theo điều tra, ở độ tuổi từ 20 - 25, khoảng 1/3 các cô gái bị nhiễm loại vi rút này nhưng tỉ lệ tồn tại của loại vi rút này sau 20 - 30 năm chỉ còn 1/10.

7. Nhiễm HPV lâu dài sẽ dễ tử vong?

Đúng. 1/3 phụ nữ mắc căn bệnh này chết vì nó.

Tại Pháp, khoảng 3.000 - 4.000 phụ nữ mắc bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung được phát hiện hàng năm.

8. Phương pháp nào giúp phát hiện Ung Thư Cổ Tử Cung chính xác nhất?

Để phát hiện bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung, các bác sỹ sẽ cho bệnh nhân đi làm xét nghiệm phụ khoa. Họ sẽ lấy những tế bào ở cổ tử cung của bệnh nhân để làm sinh thiết. Phương pháp này cho phép phát hiện những tế bào bất thường trước khi căn bệnh ung thư đang trong giai đoạn đầu.

Hãy đi khám định kỳ từ năm 25 tuổi (3 năm/lần) để sớm phát hiện căn bệnh này.

9. Tuổi nào nên tiêm vắc xin phòng Ung Thư Cổ Tử Cung? Vắc xin bảo vệ được trong bao lâu? Chúng ta có thể tiêm vắc xin này khi đã từng quan hệ tình dục?

Theo thống kê ở Pháp, trung bình các thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục lần đầu tiên vào năm 17 tuổi. Các bác sỹ khuyên họ nên tiêm loại vắc xin này vào năm 14 tuổi, trước khi quan hệ tình dục lần đầu.

10. Có loại vi rút nào khác gây nên bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung ?

Vi rút thuộc họ HPV là nhóm duy nhất gây nên bệnh ung thư cổ tử cung: có khoảng 15 loại vi rút HPV.

Phương Lê (Tổng hợp)


Detect language » Hungarian

Detect language » Hungarian

contentlength: 45806
Chia sẻ

Video nổi bật

Sởn gai ốc 26 con gián làm tổ trong tai người
00:00 / --:--

TIN Sức Khỏe NỔI BẬT

3 tác dụng phụ kỳ lạ xảy ra sau khi làm 'chuyện ấy'

Vì nhiều nguyên nhân mà không ít người gặp phải những hội chứng kỳ lạ sau mỗi "cuộc yêu". Mặc dù có thể vừa đạt cực khoái nhưng ngay sau đó, họ lại bị đau đầu, buồn chán hoặc thậm chí bị dị ứng.