Những vị thuốc không nên dùng cho phụ nữ có thai

12:56 18/09/2009
>
Những vị thuốc không nên dùng cho phụ nữ có thai
Cây và vị thuốc đơn bì
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai phải hết sức thận trọng, nhất là trong Đông y có rất nhiều vị thuốc gây ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển của thai nhi đặc biệt làm gia tăng sự co bóp tử cung dễ gây động thai, sảy thai. Xin lưu ý một số vị thuốc thông dụng nhưng có thể gây nguy cơ cho phụ nữ có thai..

Nhóm thuốc giải biểu

Quế chi vị cay ngọt, tính ấm, quy vào ba kinh phế, tâm, bàng quang. Tác dụng giải biểu, tán hàn, chủ trị các bệnh cảm mạo phong hàn, làm thông dương khí, ấm kinh thông mạch, ấm thận, hành thủy. Đặc biệt thuốc có tác dụng hành huyết, giảm đau, dùng trong các chứng bế kinh, ứ huyết, trục thai chết lưu, vì thế không dùng cho thai phụ.

Thuyền thoái (xác lột con ve sầu), vị mặn tính hàn, quy vào hai kinh phế, can. Tác dụng tán phong nhiệt, giải biểu, giải độc, thúc sởi mọc nhanh, trấn kinh an thần, chữa sốt cao, co giật, chống viêm trong viêm thận mạn tính. Những người có chứng hư và không có phong nhiệt không dùng, phụ nữ có thai dùng thận trọng.

Nhóm thuốc thanh nhiệt

Mẫu đơn bì vị đắng tính hơi hàn, quy vào ba kinh tâm, can, thận. Thuốc có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết làm thanh huyết nhiệt, trị chảy máu cam, thổ huyết ban chẩn..., thanh can nhiệt chữa chứng sườn đau tức, hoa mắt đau đầu, đau bụng kinh. Ngoài ra còn có tác dụng hoạt huyết khử ứ, điều trị các chứng bế kinh, tích huyết, chấn thương, làm hạ huyết áp, chữa xơ vữa động mạch. Do tác dụng thông kinh hoạt huyết, vị thuốc không dùng cho người có kinh nguyệt nhiều và phụ nữ có thai vì dễ gây sảy thai.

Bạch mao căn (rễ cỏ tranh) vị ngọt, tính hàn quy vào hai kinh vị và phế. Có tác dụng thanh trừ nhiệt độc trong cơ thể, tư âm, thanh nhiệt, tiêu ứ huyết. Làm lương huyết, chỉ huyết trong trường hợp đái ra huyết, chảy máu cam, ho ra máu. Lợi niệu tiêu thũng trong các chứng viêm thận cấp hay bàng quang thấp nhiệt. Ngoài ra còn thanh phế chỉ ho. Do công năng trục ứ huyết, tính lại hàn nên người có thai và người bệnh thể hư hàn không có thực nhiệt không nên dùng.

Nhóm thuốc ho

Bán hạ là vị thuốc hóa đàm hàn, vị cay, tính ấm, quy vào hai kinh tỳ, vị. Tác dụng ráo thấp, trừ đàm, chỉ ho dùng trong các chứng đàm thấp, ho nhiều đàm chữa viêm khí quản mạn tính, giáng nghịch, chỉ nôn, tiêu phù giảm đau, giải độc. Phụ nữ có thai dùng cần thận trọng.

Thường sơn vị đắng, tính hàn, hơi có độc, quy vào ba kinh phế, tâm, can. Tác dụng tiêu đờm, chữa sốt rét, làm cho đờm nôn ra, làm hết bĩ tích, bứt rứt khó chịu. Không nên dùng cho người ở thể hư và phụ nữ có thai.

Nhóm thuốc bình can, tức phong, an thần khai khiếu

Toàn yết (bọ cạp) vị mặn, hơi cay, tính bình, có độc, quy vào kinh can. Có tác dụng làm tắt phong, chỉ kinh, chữa các bệnh trúng phong, uốn ván, điên giản chân tay co quắp, hoạt lạc thông kinh, giảm đau, giải độc chữa sang lở mụn nhọt. Không dùng thuốc cho người huyết hư, phụ nữ có thai.

Băng phiến kết tinh từ tinh dầu đại bi, vị cay đắng, tính hơi hàn, quy vào 3 kinh tâm, tỳ, phế. Tác dụng khai khiếu, tỉnh thần, tiêu tán màng mộng, mắt đau đỏ. Không dùng cho phụ nữ có thai.

Xạ hương là vị thuốc lấy từ túi xạ con hươu sao đực trưởng thành, có vị cay, tính ấm, quy vào hai kinh tâm, tỳ, thông 12 đường kinh. Tác dụng khai khiếu tỉnh tỳ, dùng trong chứng kinh phong, điên giản, hôn mê, trúng phong, quyết lạnh do đờm dãi vít tắc. Trên lâm sàng còn dùng khử ứ huyết, giảm đau trong chấn thương sưng đau, cơ nhục sưng tấy. Ngoài ra còn làm thoái màng mộng, sáng mắt, trừ mủ, tiêu ung nhọt, đặc biệt có tác dụng thúc thai sản, trục thai chết lưu. Vì vậy dễ gây sảy thai, không nên dùng cho phụ nữ có thai.

Nhóm thuốc hành khí

Hậu phác vị cay, tính ấm, quy vào ba kinh tỳ, vị, đại tràng. Tác dụng hành khí, hoá thấp, giảm đau, chữa tỳ, vị hàn thấp khí trệ, ngực bụng đầy trướng, ăn uống không tiêu. Giáng khí bình suyễn dùng khi đàm thấp ngưng đọng ở phế, làm thanh tràng chữa chứng hoắc loạn, kiết lỵ. Người tỳ vị hư nhược, phụ nữ có thai không nên dùng.

Chỉ thực vị đắng, tính hàn quy vào hai kinh tỳ, vị, tác dụng phá khí tiêu tích dùng khi đại tiện bí kết tỳ hư, ứ trệ, ngực bụng đầy trướng, ăn không tiêu, lỵ lâu ngày. Giảm đau, hoá đàm, trừ báng bĩ, lồng ngực đầy tức, khó thở do ho nhiều đàm, đàm ngưng trệ. Trường hợp không có khí trệ, tà thực thì không dùng, người thể trạng yếu, phụ nữ có thai không nên dùng.

(Theo SK&ĐS)
Việt Báo
contentlength: 8483
Chia sẻ

Video nổi bật

Bệnh MERS đang tấn công, chúng ta phải làm gì ?
00:00 / --:--