Điều trị cho thai nhi ngay khi còn trong bụng mẹ

07:37 27/06/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Dieu tri cho thai nhi ngay khi con trong bung me
Mổ hở để điều trị cho thai nhi.

Những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh học và phẫu thuật đã có thể giúp chúng ta sớm phát hiện những dị tật bẩm sinh ở trẻ ngay từ khi còn trong bụng mẹ, để từ đó đưa ra phương pháp chữa trị hay phẫu thuật hiệu quả nhất.

Phát hiện sớm những bất thường ở thai nhi

Khi nghe tin con mình có dị tật dù là rất nhỏ, các bà mẹ đều rơi vào tâm trạng vô cùng đau khổ. Khi đó, sự tư vấn và những lời khuyên của bác sĩ thật sự rất cần thiết, giúp người mẹ tìm được giải pháp tốt nhất để điều trị hay nhờ phẫu thuật cho con trước khi quá muộn. Tùy theo từng trường hợp mà bác sĩ sẽ đưa ra lời khuyên như phẫu thuật dạ con, nội soi hay chờ sinh.

Những bất thường khác nhau có thể xuất hiện trong lúc bào thai đang tăng trưởng. Một số bất thường phát triển sớm và những trường hợp này thường nghiêm trọng và khó xử lý. Những bất thường xuất hiện chậm ít nguy hiểm hơn và thường được phát hiện sớm do lúc đó tuổi thai đã khá lớn, đồng thời kết quả chẩn đoán hình ảnh dễ nhận biết hơn.

Theo giáo sư Fréderic Bargy (chuyên gia phẫu thuật sơ sinh), những vấn đề thường gặp ở bào thai có thể phân loại theo 3 nhóm:

- Những bệnh di truyền (1/3.000 trường hợp).

- Những dị tật bẩm sinh (1/1.000 trường hợp).

- Những bệnh về nhiễm sắc thể (1/500 trường hợp).

Trong trường hợp di truyền, cha mẹ khỏe mạnh đã truyền lại cho con họ những gen thiếu hoàn chỉnh, trong đó có thể kể đến sự nhầy nhớt, bệnh cơ, sự tăng sản bẩm sinh của tuyến thượng thận. Khi nghi ngờ bệnh mang tính di truyền gia đình gây ra những dị tật, người ta sẽ tiến hành xét nghiệm nước ối. Dị tật bẩm sinh có thể xảy ra ở một bộ phận chính hoặc tổng thể một cơ quan nội tạng như đường tiết niệu, thành bụng, mặt, hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, tim, cơ quan sinh dục… Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của kỹ thuật siêu âm, người ta đã có thể phát hiện những bất thường của thai nhi từ tháng thứ 4 của thai kỳ. Các bệnh về nhiễm sắc thể thường gặp là trisomie 21 (có đến 3 nhiễm sắc thể 21).

Trong rất nhiều trường hợp, có thể khẳng định với các bà mẹ tương lai là sau quá trình điều trị, dị tật sẽ được khắc phục và thai nhi sẽ tăng trưởng một cách bình thường. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp dị tật bẩm sinh di truyền không thể chữa trị được do có nhiều bệnh lý kết hợp.

Nếu phát hiện dị tật ở trẻ trong giai đoạn sớm thì cần có hướng điều trị hợp lý và kịp thời nhằm giảm thiểu mức độ dị tật ở trẻ. Nếu không thể khắc phục thì cần chuẩn bị tâm lý cho các bậc cha mẹ. Họ cần được tư vấn bởi các bác sĩ tâm lý để chuẩn bị tinh thần cũng như có một số kinh nghiệm chăm sóc trẻ trong các trường hợp đặc biệt.

Theo dõi thai qua siêu âm

Có thể nói siêu âm là cánh tay đắc lực đối với bác sĩ sản khoa, hỗ trợ rất nhiều trong quá trình theo dõi sự phát triển thai nhi. Theo bác sĩ Rodolphe Gombergh (chuyên gia về hình ảnh học), trong tương lai ta có thể dựa vào sóng siêu âm để phân tích tập tính của trẻ và hiểu thêm về giải phẫu học.

Siêu âm 2 chiều đã được phát minh cách đây 30 năm, tạo nền tảng cho một cuộc cách mạng trong y học khi nó cho ta hình ảnh cắt lớp của phôi thai. Đó là cơ sở cắt lớp giải phẫu học được ứng dụng trong hình thái học. Vào những năm 90, người ta đã tiến thêm một bước: Nhờ vào sóng Doppler, các nhà X-quang đã nghiên cứu được những luồng lưu thông của máu… Cũng vào thập niên này, siêu âm 3 chiều đã cho chúng ta biết tổng thể thai nhi, có thể xoay tròn nó để nhận biết các mặt, góc cạnh về giải phẫu học nhằm xác định những bất thường. Ngày nay, người ta có thể chụp cắt lớp 3 chiều vào các âm bản để thấy được da, xương và cả những cơ bắp…

Khoảng 3 năm gần đây, sự xuất hiện của siêu âm 4 chiều đã đánh dấu một bước tiến lý thú về những thuộc tính ban đầu của các giác quan, cho phép ta xác định chắc chắn hơn về những dị tật. Các kỹ thuật 2D, 3D, 4D thường bổ sung cho nhau trong lĩnh vực y khoa, giúp chúng ta có thể phân tích hộp sọ bằng cách soi thóp, mặt, cột sống, các chi hoặc bụng, kết hợp với siêu âm để trợ giúp rộng hơn trong điều trị.

Trong điều trị, đã có nhiều tiến bộ lớn về sinh học lẫn giải phẫu học: Trong trường hợp nào ta sẽ điều trị các dị tật của phôi thai khi đang phát triển, và trường hợp nào phải đợi đến sau khi sinh? Nếu bệnh được xác định rõ ràng thì ta có thể điều trị qua người mẹ, thuốc sẽ qua nhau để đến phôi thai. Cách này thường được sử dụng khi điều trị các bệnh liên quan đến nhịp tim (không đều) hoặc bệnh về gen đặc biệt (như sự tăng sản bẩm sinh ở tuyến thượng thận) đem đến giới tính nam cho thai nhi. Để phòng ngừa bệnh lý tăng sản bẩm sinh tuyến thượng thận, các chuyên gia cho người mẹ uống corticoid trong những tháng đầu tiên khi thai đang tăng trưởng.

Trong những trường hợp khác thì không cần thiết phải chữa trị ngay, mà tùy thuộc vào chẩn đoán, mức độ trầm trọng và diễn biến của dị tật nhanh hay chậm. Nếu dị tật phát triển chậm, bác sĩ sẽ bảo tồn để phẫu thuật vào lúc sinh hoặc sau đó. Chẳng hạn với trường hợp dị tật đường tiểu hay đường tiêu hóa thì khi các thương tổn tăng lên, người ta phải tiến hành chữa trị trong tử cung người mẹ bằng cách mổ nội soi (là cách mổ phổ biến hiện nay).

Điều trị can thiệp kín qua hướng dẫn siêu âm

Các chuyên gia sẽ chẩn đoán bệnh qua xét nghiệm máu nhau thai, nước ối, siêu âm … rồi quyết định can thiệp, không chờ đến sau sinh vì có khả năng gây nguy hiểm cho thai .

Dưới hướng dẫn của siêu âm, người ta sẽ đưa kim xuyên qua da, xuyên qua tử cung người mẹ đến điểm cần tiếp xúc ở thai nhi. Chẳng hạn truyền thuốc trực tiếp vào thai nhi trước khi sinh trong trường hợp có tương kỵ nhóm máu mẹ con, tương kỵ tiểu cầu, nhiễm siêu vi trùng…, hoặc cần thiết đưa kim dẫn lưu màng phổi vào nước ối trong trường hợp tràn dịch màng phổi ở thai nhi; Trường hợp cần lấy máu thai nhi để thử nhóm máu Rh khi thai được 12 tuần.

Phẫu thuật nội soi

Dieu tri cho thai nhi ngay khi con trong bung meDưới sự hướng dẫn của một camera gắn ở đầu ống nội soi, các chuyên gia sẽ tiến hành can thiệp trực tiếp trên thai nhi ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Phẫu thuật được tiến hành qua một vết rạch da nhỏ, ống nội soi phẫu thuật sẽ xuyên qua cơ tử cung đến nơi cần can thiệp. Chẳng hạn như trường hợp dị tật thoát vị cơ hoành ở thai nhi cần phải can thiệp trước khi trẻ ra đời. Người mẹ sẽ phải nằm viện 24 giờ.

Phẫu thuật hở

Trong trường hợp không thể can thiệp qua nội soi thì phải tiến hành mổ hở để có thể can thiệp những dị dạng. Một đường mổ dài 15cm sẽ được thực hiện ở ngoài da và cơ tử cung người mẹ, dưới gây mê toàn thân. Người ta sẽ hứng lấy nước ối sau đó đặt trở lại khi kết thúc phẫu thuật.

Phẫu thuật hở rất nguy hiểm cho cả mẹ lẫn con. Người mẹ sẽ có nguy cơ sinh non và trong lần mang thai kế tiếp buộc phải sinh mổ. Đối với bé, khi rời buồng tử cung của mẹ sẽ có nguy cơ cao bị ngưng tim. Người ta được phép để hở bụng trong 3 giờ, nhưng thời gian tối đa can thiệp trên thai nhi bên ngoài tử cung là 50 phút. Cần giữ thân nhiệt của thai nhi ở mức 37 độ C (dùng túi vô trùng có nhiệt độ 37 độ C để giữ ấm).

Cuộc mổ tuy không lâu nhưng phẫu thuật viên rất căng thẳng. Bệnh nhân phải nằm viện 2 tuần để theo dõi thật sát trước và sau phẫu thuật. Chính vì thế, nhiều cặp vợ chồng đã từ chối phương pháp điều trị này, phần lớn là người chồng từ chối do có thể xảy ra nguy cơ cao cho cả vợ và con của họ.

(theo SK&ĐS)
Việt Báo
contentlength: 12847
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Nguy hiểm khôn lường từ những miếng dằm nhỏ xíu mắc trong tay
00:00 / --:--

TIN Sức Khỏe NỔI BẬT

Hệ lụy nguy hiểm từ trào lưu "quay lưng" với vắc xin

Dịch sởi đang có những diễn biến rất phức tạp tại khắp các tỉnh, thành trên cả nước. Một trong những nguyên nhân được các nhà chuyên môn xác định là hệ lụy từ xu hướng “quay lưng” với tiêm vắc xin (anti vaccine) của các bậc cha mẹ.

VẤN ĐỀ SứC KHỏE NÓNG NHẤT

Hang tram tre mam non nhiem san lon o Bac Ninh

Hàng trăm trẻ mầm non nhiễm sán lợn ở Bắc Ninh

Đã có gần 1.200 trẻ từ Bắc Ninh đến BV Nhiệt đới TƯ và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TƯ để làm xét nghiệm xem có nhiễm..