Tết - Ký ức tuổi thơ của những người nổi tiếng

11:07 11/02/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

"Tô Hoài với những con ma bình vôi; "Mạc Can: Tôi là con gà lang thang"; Bùi Ngọc Tấn và những cái tết đã thành cổ tích; Vài ký ức tuổi thơ của Nguyễn Huy Thiệp...


Tô Hoài với những con ma bình vôi

Chú dế mèn của ông đã từng đạp tanh tách trong giấc mơ của không biết bao nhiêu những cô bé cậu bé tuổi mộng. Cuộc phiêu lưu của chú dế mèn với giấc mơ về một thế giới đại đồng đường như luôn mở ra những chân trời mới, bởi vì nó đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Còn người sinh ra chú dế mèn, nhà văn Tô Hoài, tết này đã ngoài 80. Vậy mà những hoài nhớ của ông về tuổi thơ vẫn còn rất trẻ và không kém phần nghịch ngợm. Lần này, ông dẫn chúng ta về một trong những ký ức tuổi thơ của những ông, những bà bình vôi...

Tet Ky uc tuoi tho cua nhung nguoi noi tieng
Nhà văn Tô Hoài.

Cành duối treo vắt vẻo các ông bà bình vôi, chỉ trông thấy đã giật mình, mắt nhìn thẳng, chân chạy không dám nhót gót. Đến bây giờ, tôi cũng không biết gọi là ông bình vôi hay bà bình vôi. Thấy người ta gọi là bà thì cũng gọi thế. Và chẳng còn đâu có bà bình vôi, ngay cả tết nhất. Dẫu sao đã là những cái tết của thế kỷ trước rồi. Cái thời trẻ con, mỗi khi trông thấy bà bình vôi, tôi vẫn thấy sờ sợ thế nào ấy, và nếu ai có doạ: ông ba bị chín quai mười hai con mắt, thì tôi hãi bà bình vôi hơn.

Thế mà tôi thấy ở đâu cũng la liệt bà bình vôi, chỗ nào ở cây đa cây đề nào cũng treo lủng lẳng bà bình vôi, cái quai cũng bằng sành có cái treo trên vách, có cái đã mẻ cả miệng, có cái gãy quai. Cái bình vôi lại âm thầm đứng trong xó nhà.

Nhà có khách, têm trầu xong người ta cầm cái đóm ra quệt một mảng vôi vào để trên âu trầu, mỗi người quệt một mảng vôi vào lá trầu không. Cái bình vôi chỉ có việc làm cho miếng trầu thêm cay. "Ba đồng một miếng trầu cay. Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không". Bà bình vôi chỉ có việc để quét vôi vào miếng trầu không, nhưng lúc nào trong bình cũng có nước không đặc không nhạt, mà không bao giờ để cạn khô. Bình vôi cạn hay là xới cơm mà vét nồi quèn quẹt là cái điềm đói kém.

Cái bình vôi vỡ hay sứt quai bỏ rải rác ở khắp nơi. Không phải người ta bỏ đi mà bà bình vôi vỡ miệng, đứt quai. Người ta để nó ở những nơi nhất định. Nó như con cú vọ, chỗ nào cũng nhòm ngó nghé nghiêng như con ma xó. Những bà bình vôi treo trong gốc đa, gốc đề - lắm nơi buộc chằng chịt trên những đám rễ cây si, giữa bụi xương rồng. Người ta gọi là bà bình vôi, có nghĩa vì sự quấn quýt dan díu ấy.

Những ngày áp Tết, nhà nhà đều quét tước quang quẻ nhà cửa, ngoài vườn. Lại vảy vôi trên bờ rào và các gốc cây, chỗ nào có bóng bà bình vôi. Tôi sợ những bà bình vôi ở cái giếng cuối làng. Mỗi năm người ta bỏ những bình vôi ra bờ giếng nhiều nhất, cao như một cái gò ông Đống ngoài đường cái quan. Lại những khi vào hè có cúng cầu yên, tôi tưởng tượng những cái bình vôi sứt vòi, sứt quai, vỡ đôi vỡ ba, cái bình vôi như là hồn người chết đến các ngày hè, tháng bẩy mưa ngâu và ngày tết lại tụ tập lại đây. Trong cành duối treo vắt vẻo một dãy các ông, bà bình vôi bằng sành, cái trắng, cái rạn đen, chỉ trông thấy đã giật mình, mắt nhìn thẳng chân chạy không dám nhón gót.

Cái giếng đất của làng mặt nước như mặt ao, xung quanh rào hàng xương rồng xù xì như những cái gộc tre, con chó không chui lọt, mặt giếng thả đám bèo ong xanh om cắm cành rong để cho người ta biết là giếng nước ăn. Nhưng hình như ai cũng biết là nước giếng ăn, chẳng ai dám thò chân đến cái bậc thềm đá.

Không biết rồi đến năm nào tôi mới nghe người ta kể chuyện rằng ở cái giếng ấy ngày trước ở trong làng có hai người yêu nhau chẳng lấy được nhau, hai người lấy dải thắt lưng quấn vào nhau rồi nhảy xuống giếng. Câu chuyện đôi trai gái trẫm mình ấy đã truyền đời như thế, người ta cứ kể như mới hôm qua, chúng tôi càng sợ cái giếng ma.

Ngày áp Tết, các nhà trong xóm ra quét giếng, sắp đặt lại ngay ngắn các bà bình vôi ở rặng duối. Các cụ ông đem nước vôi ra rảy khắp từ trên bụi cây xuống gốc. Các cụ bà thì nhổ cỏ rồi lấy chổi sể quét sạch như lau. Người ta chặt một cây chuối cắt từng khúc làm bậc thang. Đấy là cái thang cho các âm hồn ngày tết được về chơi dương gian. Những bà bình vôi trong bờ rào duối lấp lánh trắng như người đang lò dò đi.

Sáng mùng hai, tôi đi chùa, qua chỗ cái giếng đất. Cái rặng duối xanh đen, những bà bình vôi được xếp đống lại quanh cây hương. Không thấy dưới giếng cái cầu cây chuối cho ma đi. Chắc là hồn oan ở dưới giếng đã được về ăn tết cả.

Các cụ đi chùa nhai trầu phóm phém, lại quệt thêm vôi ở những bà bình vôi trắng nhởn như mắt ma. Nhưng tôi không thấy sợ như mọi hôm, tại những con ma về ăn tết cả rồi chăng ? Mấy năm sau, người ta lấp cái giếng đất làm đường to, lại trải nhựa phẳng lì ra tận đầu xóm. Câu chuyện cái sợ bà bình vôi, với cái giếng đất có ma và rặng cây duối có bà bình vôi không ai nhớ nữa.

Mạc Can: Tôi là con gà lang thang

Tet Ky uc tuoi tho cua nhung nguoi noi tieng
Nghệ sĩ Mạc Can (người bên trái)

Tôi sinh ra ở một khúc - đoạn nào trên dòng sông Tiền, chiều ngày 14 tháng 4 năm Ất Dậu. Chỉ mới đó thôi mà. Rồi tôi ngồi đây ghi lại vài hàng chữ này, tính lại, vui thật. Chỉ còn ít ngày nữa là tới tết Ât Dậu năm 2005. 60 năm trôi qua, với tôi và những người cùng tuổi "con gà Ất Dậu lang thang" như tôi. Là đi và sống đủ trọn một đời người. Có người còn gọi là "hoa giáp". Tôi nghĩ mình chào đời trên dòng sông. Như là ai đó đang viết một bản nhạc quên, rồi sau cố nhớ cũng quên tuốt, vì ghi vội một nốt mà lại sai, vào những phong ba vốn đã có. Bao nhiêu năm là bấy nhiêu lần. Tôi vừa đi vừa lắng nghe nốt nhạc này. Qua hết 12 con giáp, từ năm con gà xa xăm ngày tháng năm mịt mờ, tối tăm sương khói. Cho chí tới con gà mới tinh sáng trưng hân hoan này.

Ất Dậu năm 1945 là năm con gà đói gạo. Và Ất Dậu 2005 là năm nay, là năm con gà no, lúa thóc đầy bồ, trong không khí thanh bình, thịnh vượng. Còn nói gì nữa mà không gọi là vui. Song để cho có niềm vui này, mọi người trải qua không ít vất vả. Riêng tôi là một nghệ sĩ lang thang, giờ hồi tưởng về cuộc đời mình. Cũng không nén được những bồi hồi.

Nhiều, nhiều chuyện quá. Cũng khó nhớ được nhiều điều. Những đoạn "phim" lưu trữ theo thời gian cũng không còn giữ được hết. Nếu nhớ thì hình ảnh đầu tiên tôi luôn thấy mình...đang đi học về, chính là thằng bé con nhỏ xíu, vui tính như hề, vừa đi vừa nhảy chân sáo trên lề đường kia kìa, trên những nhành cây dầu sao; tôi còn thấy gác chuông nhà thờ, có con gà sắt đứng cao tít trên đó, không bao giờ con gà này gáy, mà chỉ nghe chuông rền trong buổi lễ sớm. Hãy hướng mặt theo thằng bé, nó đang đi thì bỗng dưng dừng lại cúi xuống nhìn, nó lượm từ đất lên miếng giấy báo cũ nhàu nát người ta gói bánh mì. Vừa đi vừa đọc cho tới khi phải qua một ngã tư đường, bên kia là một rạp chiếu bóng. Có chiếc xe lửa điện chạy trên đường sắt. Thời gian này vào cuối những năm 50. Tôi thấy ngôi nhà và cái lu cá lia thia của tôi. Tôi cúi nhìn sóng nước lăn tăn trong lu và những con cá nhỏ, rồi tôi thấy một dòng sông lớn. Tôi trở lại sông Tiền. Nơi tôi sinh ra, lại cũng trên một chiếc ghe hát rong. Từ đó, cho tới nay, là một cuộc phiêu linh dài không ngừng nghỉ. Thăng trầm như nghe một giao hưởng.

Ngay lập tức, tôi thấy một chú hề ngộ nghĩnh khoảng 8 tuổi, trên sân khấu đình - chợ. Mà người ngồi đứng gần gũi đến nỗi có thể chạm tay vào diễn viên. Mấy đứa con nít trèo lên ngồi luôn trên sân khấu là chuyện thường. Lần đầu tiên lên sân khấu và nếu là, cho tới lần cuối cùng, tôi vẫn cứ xôn xao nóng lòng, lúc nào cũng muốn chạy ra ngay nơi đó, như để gặp người tôi yêu. Tôi yêu sân khấu, và khán giả biết bao, trong đó có Cầm. Nhiều người khác, và Cầm, thích nhìn tôi cho vui, tôi thì thích nhìn những khuôn mặt "tại vì tôi mà cười", tôi thích khuôn mặt bầu bĩnh của Cầm khi cô bé cười. Thật là vui cho cả hai, cũng như tiếng cười giòn của đám con nít nông thôn bạn bè của tôi khi tết tới. Tết ở những vùng quê xa nơi gánh hát Bầu Tèo của cha tôi tới, là nhiều ngày vui vẻ tưng bừng, ăn no ăn ngon, diễn được rất nhiều suất.

Thời đó. Không có xa cách gì giữa nghệ sĩ và khán giả, trước buổi diễn sáng chiều, bà con cũng thấy đào kép cùng ngồi với mình, nói chuyện vui với nhau, bên hàng cháo lòng, quán cà phê, xe hủ tíu. Khi những gánh hát tới, bất luận là gánh nào, bà con không nói là tới, mà reo lên: "Gánh hát về!". Khác nhau có mỗi một chữ tới - về, mà đầm ấm lòng người tha phương cầu thực. Còn khi buổi hát diễn ra, mọi người như đang ở trong nhà mình. Hình như vào thời xưa, mọi thứ đều nhỏ, chợ nhỏ, nhà nhỏ, cái cửa vào nhà cũng nhỏ, rạp hát, võ ca đình cũng nhỏ, thân mật. Mọi người đều quen nhau. Dễ nói chuyện, bất cứ chuyện gì cũng cười.

Với nghệ sĩ hề tí hon như thằng tôi thì... tôi nghe tiếng chính thằng tôi cười. Tôi thấy tôi đang biểu diễn trên sân khấu, thì mấy thằng nhỏ khán giả của tôi, cũng chen lấn leo trèo lên ngồi trên đó coi hát. Tụo nó vừa coi tôi giễu vừa lớn tiếng rủ ngày mai đi chơi.

Ê hề, mai tắm sông, đá banh nha mậy!

Nhà nghệ sĩ hài quên rằng mình đang ở vị trí khác hơn đời thường. Nói lớn:

Ừa, mà bữa trước thằng nào lấy của tao cây chuối?

Tôi nghe khán giả cười rần lên, trong đó có Cầm. Còn cha tôi đang diễn trò ảo thuật, ông quay lại nhìn tôi tức tối. Chính vì tôi là thằng hề con đang đứng cầm cái nón cao cao của ông, lúc nào cũng phải xớ rớ bên cạnh ông, vì tôi có nhiệm vụ hứng những lá bài xuất hiện trên bài tay rất khéo của ông, ông che cái khăn đen lớn trước bụng ông, thì tôi lén đưa sau cái khăn... một con vịt lớn. Nghiêm chỉnh cần chính xác mà tôi lại... lo ra ham chơi.

Và rồi tôi đang tắm sông, tôi đang ôm một cái bập dừa làm phao, còn cái thằng nhỏ hồi hôm rù tôi thì ôm một cây chuối. Chúng tôi lội qua bên kia sông để hái những trái bần ổi. Khán giả tí hon và tôi cùng đá banh chân đất trên mảnh ruộng, bùn sình, chúng tôi cũng chạy đua trên các con đường nhỏ dưới bóng những cây gòn. Loại cây da xanh, lá thưa, cành khẳng kheo buồn hiu, trái giống như con thoi, cùng màu xanh. Khi nó còn xanh, tôi hay bày ra cách gọt nó thành chiếc xuồng có mui, thả trôi trên sông. Rồi ngày lại qua ngày, trái gòn khô, vàng úa, treo trên cành cây mẹ của nó. Vào những lúc có gió mùa giông bão, bông gòn bay trong gió, rơi bạc trắng mái nhà rêu xanh phố huyện, trong đó có ngôi nhà cũ kỹ mái ngói thấp tối của Cầm.

Có lần về lại quê cũ, tôi vào ngồi trong lòng rạp hát thênh thang, giờ thì bỏ hoang. Tôi nghĩ rạp hát hoang vắng này là Cầm. Tôi có coi cuốn phim Thiên đường đã mất. Một người đàn ông tìm về rạp chiếu bóng trong khu thị trấn cũ kỹ buồn hiu của mình, ngồi nhớ lại thời thơ ấu của ông với cô bạn gái, sau đó rạp chiếu bóng bị san bằng. Tôi may mắn hơn ông... Tây kia, rạp hát xưa còn đây. Cầm vẫn ở trong nhà mình, tuy bà không hề chờ tôi như tôi hằng tưởng tượng. Mà bà đã có cháu cố. Tôi vẫn thấy mình trên sân khấu, và từ trên đó tôi lại thấy Cầm ngồi cạnh tôi rồi cười. Tôi thấy không phải chỉ một mình tôi, mà nhiều người, nhiều sự việc mới cũ diễn ra ở mỗi cảnh vô danh của huyện nhỏ và những dòng sông buồn. Tôi khởi hành từ một nốt nhạc sai nhưng phần sau lạc quan.

Bùi Ngọc Tấn và những cái tết đã thành cổ tích

Đã thành cổ tích thật rồi những cái tết cách đây gần 70 năm, những cái tết thần tiên một "miền thơ ấu". Miền thơ ấu đâu chỉ là một tuổi ấu thơ mà còn là bầu trời ngày ấy, mặt đất ngày ấy, những người quanh ta ngày ấy... Thế giới của ta khi ta bắt đầu biết có ta trên cuộc đời này, giờ đây đã vượt qua cái ngưỡng cổ lai hy, những ngày ấy luôn trở lại trong tôi như một cõi đi về.

Không còn nữa con đường làng, trong mùa khô hanh, vương đầu vụn rơm rạ. Không còn cánh đồng lúa vàng sắp gặt xong, những con cun cút hốt hoảng bay lên ngay sát mũi liềm và những đêm cả nhà đập lúa, mình lăn lóc trên đống rơm tươi. Và khi việc thu hoạch đã xong xuôi, rơm lên đống thóc vào bồ, khi luỹ tre quanh nhà đang trút những chiếc lá cuối cùng xuống mảnh vườn đông ken xào xạc, còn gì thú vị hơn là tính xem bao nhiêu ngày nữa đến Tết. Tết, tiếng ấy thật ngân nga hấp dẫn. Kiên nhẫn trừ dần, chỉ còn trên mười ngày thì thấy tết đã đến nơi rồi. Đã thấy lòng dạ xốn xang rồi. Nhất là một buổi sáng thấy anh cu Thước, cháu họ bố tôi mang cuốc chim, xà beng đi quanh bờ tre đánh gốc tre. Những gốc tre cao lưng lửng mà ngày thường mỗi khi có khách ở lại ăn cơm chúng tôi lại hò nhau đuổi bắt gà để mẹ tôi làm cơm đãi khách, lũ gà dại dột rúc đầu vào mà cứ tưởng mình đã được an toàn cho đến khi bị túm hai chân, lôi ra. Những cây tre chặt từ bao giờ, chỉ còn gốc khô chìa ra ngoài luỹ. Anh cu Thước bổ bẳng cuốc chim, bẩy bằng xà beng, rồi đem chẻ đôi gốc tre ra. Không chỉ gốc tre, anh còn lang thang trong vườn, đào những gốc cây hồng, những gốc cây dâu mà bố tôi chặt đi vì nó đã cỗi. Tất cả chất thành một đống. Củi cho nồi bánh chưng đã được chuẩn bị, sắp gói bánh rồi.

Tết lại càng gần hơn khi ông phó Hoắc, một ông thợ may trong làng cầm đồ nghề cắt may đến. Ai cũng được đo được cắt một bộ quần áo mới. Mẹ tôi đã chuẩn bị cho ngày hội cắt may này từ giữa mùa hè. Bà trồng bông, kéo sợi dệt vải, nhuộm nâu bằng vỏ chang, vỏ sú. Rồi khi thấy đã đạt được màu sắc mong muốn thì nhấn thêm mấy nước củ nâu. Mặc cái quần mới cứng cọ vào nhau sột soạt thú vị vô cùng (có lẽ vì vậy mà bây giờ mỗi khi đọc câu thơ Hoàng Cầm "Những cụ già phơ phơ tóc trắng/những em sột soạt quần áo nâu", chúng tôi bao giờ cũng nhớ lại những ngày tết hội hè đình đám ngày xưa). Trời cứ rét, bầu trời hiếm hoi ánh nắng. Chúng tôi còn đang mong đến ngày được mặc thử bộ quần áo mới thì lại xảy ra một chuyện tuyệt vời khác: bác Buồi Ngay từ trên Vẹt Khê đem đến tết bố mẹ tôi một con gà trống. (quê tôi có cái lệ gọi như vậy. Đẻ con trai thì đặt thêm tiếng B. vào tên. Anh B. Ngay là cháu họ bố tôi, là con ông B. Vẹo và là bố cái đĩ Thẳng). Ôi ! Con gà trống của bác Ngay năm nào cũng là con gà trống tuyệt vời. Dù nó hoa mơ hay tía mặt. Dù mào cờ hay mào nụ. Dù cựa dài hay cựa ngắn. Thả nó vào cái bu đan bằng tre thưa, trên đè mấy viên gạch, anh em chúng tôi ngồi quanh cái bu nhìn ngắm. Đàn gà nhà nuôi cứ tớn tác tất cả lên. Lũ gà máu cục ta cục tác ầm ĩ. Con gà trống nhà nuôi vỗ cánh dõng dạc cất tiếng gáy cảnh báo kẻ lạ mặt và khẳng định vị trí độc tôn của mình. Không hề sợ hãi, con gà trong bu trễ cánh oai hùng, cất tiếng đáp lại. Tiếng gáy nói rằng nó coi thường tất cả. Con gà trống chủ nhà kêu lên một tiếng giận dữ. Quên cả sợ hãi, nó lao thẳng đến chỗ chúng tôi. Chúng tôi lùi ra. Để hai con gà, con trong lồng, con ngoài lồng xù lông xoè cánh chỉ muốn nuốt sống ăn tươi nhau. Khi cơn tức giận của chúng đã lên đến đỉnh điểm, anh em tôi mỗi người ôm một con gà và buông tay ra. Chúng lao vào nhau với một sức mạnh khó lường. Bốc lên. Ngã xuống. Lông cổ dựng đứng. Mào bật máu tươi. Im lặng đánh, không kêu một tiếng. Lùi ra xa rồi lại lao vào nhau. Chúng tôi kết thúc cuộc chiến của chúng khi vẫn còn bất phân thắng bại. Bởi lẽ nếu một con thua thì rất nguy hiểm. Chỉ có thể bắt nhốt con gà lại khi nó đang say máu.

Khi bác Ngay đem gà đến tết nhà tôi là không khí tết đã "sôi sục" lắm rồi. Đã cúng ông Táo. Anh cu Thước đã đem đồ đồng như lư hương, giá cắm nến ra cầu ao đánh sáng trưng. Khắp làng nhà nào cũng dựng cây nêu. Rồi tiếng lợn kêu. Gần. Xa. Xóm này ngõ khác. Ngày nhà tôi giết lợn thật vui như tết. Chặt mấy tàu lá chuối rải ở góc sân, cạo lông. Và mổ. Chúng tôi chỉ chờ đến công đoạn mổ này. Để được anh cu Rẫu, anh ruột anh cu Thước, lẳng ra từ đống lục phủ ngũ tạng còn bốc khói nóng hôi hổi của con lợn một bộ phận quan trọng nhất đối với chúng tôi: cái bong bóng bèo nhèo và khai mùi ấy được chúng tôi mang ra cầu ao, nặn rửa, lấy chân day đi day lại cho nó mềm ra, mỏng đi, rồi bắt xe điều vào thổi. Buộc, thổi. Thổi, buộc. Mỗi đứa góp một tí hơi, đỏ mặt tía tai. Chưa được. Cố tí nữa, Tí nữa thôi. Căng rồi! Thế là chia thành hai phe rèo hò lao vào, lừa, dắt, đá. Quả bóng da không tròn mà hình bầu dục cong cong bay lượn. Ngày ấy chúng tôi đã có những cú sút "lá vàng rơi", đường đi của quả bóng khó lường làm bó tay mọi thủ môn - mà mấy chục năm sau vua Pêlê mới thực hiện thành công.

Hoá ra chúng tôi hưởng tết từ rất lâu trước khi tết đến. Biết bao niềm vui trước tết. Như giục anh tôi chặt tre buộc lên một cành me làm đu cho chúng tôi. Như ngồi nghe nồi bánh chưng sôi, chờ ăn bánh chưng con, chiếc bánh năm nào cũng được gói riêng cho chúng tôi, chiếc bánh chưng vớt ra nghi ngút, khói nỏng bỏng, nát be bét nhưng luôn là miếng bánh chưng ngon nhất. Rồi đến những niềm vui trong tết. Như sáng mồng một trở dậy nhìn và nghe pháo nổ ngoài sân, khói pháo thơm lừng, xác pháo hồng rải rác mặt sân, nghĩ rằng mình đã lớn thêm một tuổi. Chờ được mừng tuổi. Rồi ngồi viét khai bút. Năm nào cũng vẫn là những vần thơ khai bút ấy:

Minh niên khai bút, bút khai hoa

Vạn sự giai thành phúc lộc đa...

Giờ đây ngồi viết những dòng này, mới thêm khát làm sao được thấy lại thế giới ấy. Được nhìn lại, thế thôi, đâu dám điên rồ mong sống lại. Được thấy lại bầu trời lành mạnh không nắng không mưa trên mảnh sân vương xác pháo hồng như cánh hoa đào. Thấy lại cây bưởi đầu sân đang nhún lộc non, mà giao thừa nào bố tôi cũng thắp hương cạnh đó khấu vái trời đất. Còn bé tí nhưng tôi cũng im lặng lắng nghe tiếng thì thầm khe khẽ của Người, không những thế, lúc ấy tôi còn nghe được tiếng nói của cây cỏ. Thế giới ấy không còn nữa. Đã tan rã. Người của thế giới ấy cũng biến mất. Như chưa hề tồn tại. Một lần nghe quá khứ thúc giục, tôi đã trở về ngôi nhà cũ của bố mẹ tôi giờ đây đã thuộc về người khác, đã được phá đi làm lại hoàn toàn. Chẳng còn chút gì lưu giữ kỷ niệm xưa ngoài chiếc rãnh nhỏ phía sau nhà. Thì im lặng ngồi trên bờ rãnh, chờ một con cá đuôi cờ từ gốc cây khoai nước lao ra. Chờ mãi. Chẳng thấy cá đâu. Chỉ nghe thấy tiếng chân bước của thời gian. Và bắt gặp vĩnh cửu.

Thế giới ấy chỉ còn trong suy nghĩ của tôi (Thế nghĩa là nó vẫn tồn tại. Và đã ngoài 70, tôi hiểu nó chằng tồn tại được bao lâu nữa). Trong những đêm mất ngủ của tuổi già trằn trọc, thế giới ấy trở về cùng tôi. Mà mỗi khi nó trở về tôi lại thấy đau, bởi bây giờ tôi mới biết khi ấy tôi sống trong sự tuyệt vời mà chẳng ý thức được sự tuyệt vời...

Vài ký ức tuổi thơ của Nguyễn Huy Thiệp

MẸ

Đối với tôi, hình ảnh mẹ sẽ chẳng bao giờ phai nhạt. Đến bây giờ, hễ nhắm mắt lại tôi vẫn có thể hình dung ra khuôn mặt lẫn dáng điệu của người: đôi mắt hiền từ, hàm răng nhuộm đen, những sợi tóc dài bên trán phảng phất mùi thơm của hương nhu, bồ kết... Dáng đi tất tả, đôi chân vòng kiềng lúc nào đi cũng như chạy.

Mẹ tôi không phải xuất thân nông dân, nhưng để nuôi anh em tôi, hồi cải cách ruộng đất người vẫn nhận ruộng về làm. Thửa ruộng nhà tôi gần bốt Cầu Đen, ngày xưa lính Pháp uống rượu vẫn đập vỡ chai vứt xuống. Mẹ tôi không biết, cứ thế chân trần xuống cấy. Tôi nhớ mẹ giẫm phải mảnh chai, máu hoà trên mặt ruộng nước đỏ lòm. Lúc ấy tôi còn rất bé, chỉ nhớ mẹ ôm chân lăn lộn trên bờ. Bây giờ hễ nhớ về mẹ, tôi không sao quên được những hình ảnh ấy.

Có lần, mẹ tôi dẫn tôi đi gặt. Trên đường đi, có con chim ngói cứ tha thẩn nhặt thóc. Hai mẹ con loay hoay tìm cách bẫy chim, không hiểu thế nào mẹ tôi cũng úp được nó. Mẹ tôi mang về, ông ngoại tôi thuôn hành răm, cả nhà được một bữa ăn thịnh soạn.

Suốt đời mẹ tôi tần tảo. Tôi chưa thấy mẹ tôi nặng lời với chồng con hay với người ngoài. Ngày bé, mẹ vẫn hay kể cho tôi nghe truyện "Đứa con trời đánh": đứa con mê chọi gà, một lần vợ hắn sàng gạo lỡ đánh chết con gà, mẹ nhận tội thay con dâu, thế là thằng con bất hiếu mang chôn sống mẹ. Câu chuyện khủng khiếp, rất ấn tượng khiến tôi nhớ mãi. Tôi tiếc khi tôi thành danh thì mẹ tôi đã mất rồi. Mẹ tôi chỉ muốn chúng tôi sống như những người bình thường, giữ trọn đạo nghĩa làm người.

SÁCH

Hồi còn nhỏ, sách là niềm say mê, ưu thích nhất của tôi. "Nhà ta quý sách hơn vàng". Bố tôi mua không biết bao nhiêu là sách về cho tôi đọc. Tôi tập dịch những bài thơ Đường. Tôi bắt chước viết truyện trẻ con. Khi biết tôi loay hoay viết lách, bố tôi rất giận. Ông biết theo nghiệp văn chương là khổ, không bao giờ ông muốn tôi theo nghiệp ấy. Những thứ tôi viết, tôi lén mang đi chôn xuống đất, sợ bố tôi nhìn thấy. Ông ngoại tôi giỏi Kinh Dịch, biết xem tử vi, xem bói. Ông ngoại tôi tiên đoán số phận của hai anh em tôi sẽ chẳng giống nhau. Anh trai tôi số phận sẽ theo nghiệp võ, bởi vậy đặt tên là "Thăng" (bay lên, thăng tiến). Còn tôi, số phận theo nghiệp văn, bởi vậy đặt tên là "Thiệp" (giap thiệp, hiểu biết, bặt thiệp. "Thiệp" cũng có nghĩa là "sang sông"). Quả nhiên sau này hai anh em tôi mỗi người một đường: một người nghiệp võ, một người nghiệp văn, đúng như lời ông ngoại nói. "Sang sông" là một truyện ngắn tôi viết vào năm 1991, đánh dấu giai đoạn từ bản năng viết sang ý thức viết văn một cách rõ ràng ở tôi.

Ký ức tuổi thơ có nhiều, không phải lúc nào cũng nhớ hết. Nếu có dịp, tôi sẽ viết về nó. Thật ra cũng chẳng để làm gì. "Mua vui cũng được một vài trống canh"...

(Theo SGTT)

Việt Báo
contentlength: 30743
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Phóng Sự NỔI BẬT

Vượt chốt kiểm dịch, gà lậu "chạy vù vù" ra ngoại thành tiêu thụ?

Để chặn gà nhập lậu cơ quan chức năng đã lập hệ thống chốt kiểm dịch, kiểm soát trên các ngả đường dẫn vào Thủ đô. Tuy nhiên giới thương lái hàng ngày vẫn tuồn được cả tấn gà nhập lậu ra ngoại thành.

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ PHóNG Sự NÓNG NHẤT

Cam bay da cap

Cạm bẫy đa cấp

Với tỉ suất sinh lời trong mơ, đầu tư 9,3 tỉ đồng, thu về hơn 450 tỉ đồng, không chỉ đối tượng là nông dân, người già mà “máy..