Những kỷ niệm nhỏ về đồng chí Lê Đức Anh

06:33 01/12/2006

- Ngày 1/12 là sinh nhật nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt về người đồng chí của mình...

Nhung ky niem nho ve dong chi Le Duc Anh
Nguyên Chủ tịch nước - Đại tướng Lê Đức Anh.

Tôi và anh Lê Đức Anh biết nhau có thể kể tới ba thời kỳ: Chống Mỹ, sau giải phóng ở Miền Nam và ra Trung ương. Thời chống Pháp tôi ít biết vì anh Lê Đức Anh ở miền Đông, tôi ở miền Tây. Sau này chỉ được nghe nói lại về anh.

Thời gian chống Mỹ, tôi được biết nhiều về anh Lê Đức Anh tức Sáu Nam và có thời gian chúng tôi cùng phụ trách trong một chiến trường (Quân khu 9).

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi được giao phụ trách công việc ở thành phố Hồ Chí Minh, còn anh Sáu Nam công tác ở Bộ tư lệnh Quân khu 7. Sau Đại hội 5 (1982) Trung ương rút tôi ra đảm nhận Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7, chúng tôi cùng được phân công giữ những trọng trách của đất nước: Anh Lê Đức Anh giữ cương vị Chủ tịch nước cùng khoá với anh Đỗ Mười làm Tổng Bí thư, còn tôi là Thủ tướng Chính phủ, anh Lê Quang Đạo, sau là anh Nông Đức Mạnh làm Chủ tịch Quốc hội.

Hết nhiệm kỳ, chúng tôi không tái cử vào Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 8 vì tuổi tác. Anh Đỗ Mười, anh Lê Đức Anh và tôi được Ban chấp hành Trung ương yêu cầu làm Cố vấn cho đến hết khoá 8.

Tôi muốn nói rõ hơn về con người và sự nghiệp của đồng chí Lê Đức Anh qua các thời kỳ chúng tôi biết, cùng công tác với nhau.

Mối lương duyên "Hoà - Thuận"

Thời chống Mỹ, các anh Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, lần lượt về miền Nam và cùng các anh Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, được tăng cường vào Bộ chỉ huy Miền. Lần đầu tiên khi chúng tôi gặp nhau là sau khi anh Sáu ở miền Bắc vô Bộ chỉ huy Miền. Chúng tôi chỉ gặp nhau trong các cuộc họp (thường là họp TW Cục mở rộng) có những đồng chí của Bộ chỉ huy Miền. Qua đánh giá và bàn chủ trương, có dịp trao đổi ý kiến về các vấn đề có liên quan tới Quân khu Sài Gòn - Gia Định (T4), tôi thấy anh Anh là người chịu lắng nghe và có ý kiến cân nhắc, cẩn trọng (đúng là một cán bộ tham mưu có tầm).

Sau Tết Mậu Thân 1968, trước khi anh Sáu Nam và anh Ba Bường xuống Quân khu 9, trong khi quân địch ráo riết bình định, lấn chiếm, kiểm soát đất, kìm kẹp dân, thì trong một số vấn đề lớn về chủ trương không thống nhất trong Thường vụ Khu uỷ (tập trung là giữa đồng chí Bí thư Khu uỷ và đồng chí Tư lệnh Quân khu). Anh Sáu Nam và anh Ba Bường đã được Trung ương Cục điều động xuống thay cho đồng chí Đồng Văn Cống và đồng chí Mười Thơ. Việc thay đổi này vừa có yêu cầu của tình hình chiến trường và cũng có vấn đề nội bộ. Lúc đó tôi đang công tác ở trên Sài Gòn.

Đến cuối 1970, đầu 1971, Trung ương Cục điều tôi xuống thay đồng chí Ba Bường (Bí thư Khu uỷ). Tình hình lúc này đang rất căng thẳng, địch đang tập trung bình định, tái chiếm lại nhiều vùng ta đã mở rộng sau Mậu Thân. Toàn quân khu đang gặp khó khăn. Vùng căn cứ U Minh Thượng, U Minh Hạ và khu căn cứ Rừng Đước (Năm Căn, Ngọc Hiển), không nơi nào ngoài tầm pháo của địch. Tôi nhớ mãi, trong lần đầu tiên dự họp Thường vụ Khu uỷ ở U Minh Hạ: 5 ngày họp phải di chuyển địa điểm 3 lần.

Viết đến đây, tôi nhớ lại trước khi rời Trung ương Cục, đồng chí Phạm Hùng cho tôi xem các báo cáo gần nhất của Khu uỷ và Quân khu về tình hình Khu 9, trong đó có bức điện của anh Sáu Nam gửi Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng, cuối bức điện có hai câu thơ:

"Ngổn ngang như mối tơ vò,
Chúng tôi cố gắng lần mò tiến lên".

Tình hình cả miền Nam nói chung, Quân khu 9 nói riêng đúng là rất khó khăn. Tại Khu 9, tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, chúng ta đã mở rộng vùng giải phóng và tranh chấp mạnh khoảng 800.000 dân, đến 1970 đầu 1971, chỉ còn trên 200.000 dân. Trong cán bộ, đảng viên và trong các lực lượng vũ trang lúc đó có hiện tượng dao động, khá phổ biến như: Tình trạng uống rượu, say rượu, không chỉ ở cán bộ, chiến sĩ cấp huyện, từ tiểu đoàn, mà cả cấp Khu, tỉnh, ở cả cấp trung đoàn... Đã có những tổn thất của một số đơn vị bám trụ trong dân đánh địch do say rượu. Trang phục của quân chủ lực của Khu và quân tập trung của tỉnh thì đủ thứ quần áo như du kích xã. Hoạt động văn hoá thì giải tán bớt các đội văn công và hạn chế hoạt động, không khí trong dân trầm lắng và căng thẳng...

Điểm thuận lợi và cũng là cái còn lại lớn nhất trong Khu uỷ và Quân khu lúc đó là đoàn kết, thống nhất các chủ trương ngăn chặn và đẩy lùi kế hoạch bình định của địch, ổn định tình hình chính trị tư tưởng trong đảng bộ, đề ra chủ trương cấm uống rượu trong cán bộ các cấp và trong quân đội. Đó là sự góp phần có ý nghĩa nhất từ khi anh Ba Bường và anh Sáu Nam xuống Khu 9.

Khi xuống thay anh Ba Bường, tôi và anh Sáu Nam cùng Khu uỷ tiếp tục củng cố thuận lợi này, nắm vững tư tưởng tiến công địch, mở rộng đất, giành lại dân là tư tưởng nhất quán, xuyên suột trong toàn đảng bộ nhằm đánh bại kế hoạch bình định đặc biệt của địch - cốt lõi của "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ - Thiệu ở đồng bằng sông Cửu Long.

Điều đáng mừng nhất là quyết tâm chính trị của Khu uỷ và Quân khu luôn vững vàng. Lòng tin của các cấp uỷ đảng và trong các đơn vị quân đội đối với Khu uỷ và Quân khu cũng rất cao. Nhân tố có ý nghĩa quyết định là ở đây, gỡ "mối tơ vò" cũng là ở đây. Tôi và anh Sáu Nam sát cánh cùng Thường vụ Khu uỷ gắn bó với nhau trong mọi việc. Khó khăn tuy nhiều nhưng chúng tôi đã nhìn thấy sự thành công trong tương lai của Quân khu Tây Nam Bộ.

Nhân đây nhắc lại một chi tiết: Anh Sáu Nam về quân khu trước nên đặt bí danh là "Chín Hoà" (đến nay, tôi cũng chưa rõ là tại sao anh lại đặt tên là Hoà); tôi xuống sau đổi tên là "Tám Thuận", vì thời đánh Pháp, tôi ở miền Tây quen gọi thứ Tám (Tám Kiệt), nay trở lại chiến trường cũ tôi đặt tên lại cũng thứ Tám, nhưng là Tám Thuận. Khi ráp lại tên mới anh Sáu Nam là Hoà, tên mới của tôi là Thuận, thành một cặp "Hoà - Thuận" - một sự trùng hợp ngẫu nhiên, rất hên, như có lương duyên.

Từ đây, mỗi khi có chủ trương trong Thường vụ Khu uỷ, anh Sáu Nam cùng các đồng chí trong Thường vụ và Khu uỷ viên trong đảng uỷ Quân khu tổ chức triển khai thực hiện. Thường vụ Khu uỷ đặt trọn niềm tin vào Quân khu uỷ, Tư lệnh Quân khu là đồng chí Chín Hoà (Lê Đức Anh).

Vị Tư lệnh cương nghị

Từ cuối năm 1971 và đến hết năm 1972, tình hình Quân khu 9 đã có phần sáng sủa rõ nét, trong các cấp uỷ đảng và quân dân Tây Nam Bộ đã giảm bớt căng thẳng và phục hồi dần không khí chiến thắng của Mậu Thân. Hướng tiến lên, đẩy lùi bình định, mở rộng vùng đã có cơ sở khá vững, không còn "lần mò" nữa. Chỗ đứng của Quân khu và Khu uỷ ổn định hơn.

Nhung ky niem nho ve dong chi Le Duc Anh
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh và các bà mẹ VN anh hùng.

Có một sự việc, một chủ trương của Khu uỷ và Quân khu tôi rất nhớ trước khi xuống Khu 9, đó là chủ trương vận động trong toàn quân khu cấm uống rượu (tình hình như nêu ở trên). Đó là một chủ trương rất đúng, nhưng khi thực hiện lại không thành công. Cán bộ chiến sĩ trong các đơn vị, thậm chí ngay cả các đồng chí trong cấp uỷ viên vẫn còn lén lút uống rượu. Hơn một tháng sau khi xuống Khu 9, tôi được Thường vụ Khu uỷ đồng ý, trong một chuyến đi công tác các tỉnh và đến thăm, làm việc với đơn vị quân đội phía nam sông Hậu, tôi phát hiện và trao đổi với các đồng chí Thường vụ Tỉnh uỷ và các đồng chí chỉ huy trung đoàn về chủ trương cấm rượu. Một số đồng chí tâm sự với tôi: Khu uỷ cấm, nhưng cán bộ cấp Khu vẫn còn uống. Nếu cấp Khu chấp hành nghiêm, dứt khoát không uống rượu thì chúng tôi cam kết sẽ chấp hành nghiêm. Tôi về báo cáo với hội nghị Khu uỷ (có cả Quân khu), chúng tôi đặt ra bàn, có hai cách để chọn:

Một là, nếu chúng ta thấy cấp Khu và kể cả Khu uỷ, Quân khu không chấm dứt uống rượu được thì chúng ta rút chủ trương cấm rượu (coi như không có chủ trương đó).

Hai là, từ cấp Khu trở xuống, ai đã uống rượu thì nhận khuyết điểm và sửa chữa. Toàn Khu kiên quyết giữ chủ trương cấm rượu, không miễn trừ ai.

Khu uỷ nhất trí chọn lựa cách thứ hai, thông báo các cấp đảng và toàn quân khu, quyết tâm của Khu uỷ và Quân khu từ trong đảng, cán bộ, chiến sĩ quân khu 9 chấm dứt uống rượu, từ cuối 1971 đến sau 30/4/1975.

Sự kiện này nói lên, một khi sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất cao và được cán bộ Khu uỷ và Quân khu gương mẫu chấp hành chính quyết định của mình đưa ra thì bên dưới tự giác hay chưa đủ tự giác cũng phải chấp hành như một mệnh lệnh. Ở đó, vai trò của người đứng đầu Khu uỷ và người đứng đầu Quân khu và tập thể Khu uỷ có ý nghĩa quyết định trong chiến tranh máu lửa. Tôi thiết nghĩ, bài học đó vẫn mang tính thời sự trong hoà bình xây dựng đất nước hiện nay.

Trong lúc này (1972), một kỷ niệm khó quên có phần riêng tư giữa tôi và anh Sáu Nam, đó là lúc động viên thanh niên vào quân chủ lực của Khu (đang lúc rất thiếu quân số), huy động cả thanh niên trong các cơ quan cấp Khu (trong vùng kiểm soát của ta gần như không còn thanh niên). Võ Dũng, con trai lớn của tôi, từ miền Bắc xin được về cùng tôi xuống Khu 9. Dũng đang công tác trong lực lượng bảo vệ, cũng hưởng ứng và tha thiết xin ra chủ lực Khu, tôi chấp thuận. Sau đó, anh Sáu Nam được tin, anh ra lệnh hoả tốc cho Trung đoàn đưa cháu về ngay Quân khu bộ (ý định cho Võ Dũng học pháo binh). Nhưng lệnh đến đơn vị thì cháu Dũng đã hy sinh trong một trận chiến đấu. Anh gửi thư chia buồn và trách tôi không cho anh biết trước.

Cuối 1972, đầu 1973, Quân khu 9 nhận được chủ trương của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền chuẩn bị giành thắng lợi lớn ngay sau khi Hiệp định Paris được ký. Phát huy lực lượng chính trị, binh vận cao độ, lực lượng võ trang thì tích cực yểm trợ tranh thủ nhanh chóng mở rộng vùng, kêu gọi các đồn địch còn chiếm đóng bỏ ngũ trở về với dân; không chủ động đánh địch, thi hành nghiêm Hiệp định Paris (hai bên ngừng bắn).

Trong thế trận mới, chấp hành đúng chủ trương trên, Quân khu 9 cụ thể hoá trong chỉ đạo và chỉ huy phù hợp với tình hình chiến trường, vừa đề cao cảnh giác và tạo thế chủ động phản công và tiến công địch. Chúng tôi bố trí lực lượng địa phương huyện và du kích yểm trợ trực tiếp cho lực lượng chính trị, binh vận, chủ lực Quân khu và lực lượng tập trung của tỉnh bố trí lại thế trận. Nếu địch ngoan cố lấn chiếm, chúng ta tập trung gỡ dần, những nơi địch yếu thì gỡ trước để mở rộng vùng, nơi địch phòng thủ còn cứng thì đánh sau. Sẵn sàng phản công và tiến công khi tình thế thuận lợi sau Hiệp định Paris.

Đầu năm 1973, một bộ phận cơ quan chỉ đạo của Thường vụ Khu uỷ và Bộ chỉ huy Quân khu chuyển hẳn lên giữa các huyện tiếp giáp Long Mỹ. Nguyễn Văn Thiệu ngoan cố không thi hành Hiệp định Paris, lệnh cho Quân đoàn 4 nguỵ tiếp tục bình định lấn chiếm (không ngoài dự kiến của Bộ chỉ huy Quân khu), Tư lệnh Sáu Nam kiên quyết chỉ huy các đơn vị đánh trả, giữ thế trận có lợi hơn cho chiến trường... Quân đoàn 4 của địch lợi dụng bối cảnh các khu khác không "chia lửa" cùng quân khu 9, địch tập trung nhiều tiểu đoàn quyết giữ Chương Thiện, làm bàn đạp để mở rộng, tái bình định các vùng đã mất. Về phía ta, anh Sáu Nam - Tư lệnh Quân khu quyết ghìm địch và tiêu diệt chúng ở Chương Thiện, tạo điều kiện để các tỉnh mở rộng vùng, đó là bản lĩnh của người chỉ huy nắm chắc tình hình và quyết thắng địch.

Lúc này, Quân khu 9 đứng trước hai khó khăn lớn phải cân nhắc, xử lý và chịu trách nhiệm với cấp trên và trách nhiệm trước quân dân Tây Nam Bộ, đó là:

Ghìm địch lại trong khu vực (Chương Thiện), hay thả lỏng ra để chúng mở rộng địa bàn bình định?

Chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền - Lệnh cho Quân khu giảm bớt căng thẳng với địch, rút một trung đoàn ngăn chặn tuyến trước về phía sau, và các lệnh (từ điện 03, 04, 07) không chỉ cho Quân khu mà trực tiếp xuống các Tỉnh đội và Tỉnh uỷ.

Trước tình hình khó khăn nổi cộm phải xử lý, với tất cả trách nhiệm, Tư lệnh Quân khu Lê Đức Anh, một mặt quyết đánh ghìm giữ địch ở Chương Thiện, không rút trung đoàn ở tuyến trước về. Đồng thời, chúng tôi cho triệu tập ngay cán bộ lãnh đạo và chỉ huy các tỉnh đội từ phía nam sông Hậu, thông báo và lệnh cho các tỉnh tiếp tục thực hiện chủ trương của Khu uỷ và Quân khu, chờ lệnh mới. Tôi cùng anh Sáu Nam chủ trì phiên họp hoả tốc với các tỉnh (họp tại xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ) báo qua tình hình, nêu rõ chủ trương của Thường vụ Khu uỷ và Quân khu. Kết quả là, tất cả đều nhất trí cao như chỉ đạo, quyết giữ đất, giữ dân... Không đầy một buổi làm việc, Hội nghị đã kết thúc với hai yêu cầu về trách nhiệm:

Một là, mệnh lệnh trên hết lúc này trong toàn Quân khu là kiên quyết phá bằng được âm mưu phá hoại Hiệp định Paris của Mỹ - Thiệu, không được để mất đất, mất dân, không có bất cứ mệnh lệnh nào cao hơn.

Hai là, Khu uỷ và Quân khu chịu trách nhiệm trước cấp trên, các tỉnh phải chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Quân khu, của Tư lệnh chiến trường.

Tôi rất xúc động, chưa thấy một hội nghị nào trong tình thế nước sôi lửa bỏng mà ý kiến trên dưới lại thống nhất cao và nhanh như vậy. Điều đó chứng tỏ là những cán bộ phụ trách của các địa phương sâu sát với hơi thở cuộc sống của quân và dân ở chiến trường, đặc biệt là ý chí và lòng tin của họ đối với Quân khu và người Tư lệnh cương nghị của mình.

Nhờ vậy, Quân khu 9 đã vượt qua thử thách lớn và được đánh giá công bằng từ Trung ương Cục, Quân uỷ Miền và Trung ương Đảng: Khu uỷ, vai trò anh Sáu Nam và lực lượng vũ trang Quân khu 9 đã góp phần xứng đáng, kể từ sau Hiệp định Paris.

Cuối 1973, tôi được rút về Trung ương Cục và sau đó, anh Sáu Nam cũng được rút về Bộ chỉ huy Miền, chúng tôi cùng tham gia chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng miền Nam.

Kết thúc giai đoạn Quân quản, tôi được phân công làm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh, anh Sáu Nam phụ trách Tư lệnh Quân khu 7. Giai đoạn này, chúng tôi cùng hợp tác với nhau rất tốt. Bộ tư lệnh Quân khu 7 đóng tại Sài Gòn và Sài Gòn thuộc địa bàn Quân khu 7. Trong giải quyết các vấn đề về an ninh và bảo vệ Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh và chiến tranh biên giới Tây Nam, có sự hợp tác chắt chẽ giữa Thành uỷ, Thành đội với Quân khu 7.

"Cặp bài trùng" thời đổi mới

Nhung ky niem nho ve dong chi Le Duc Anh
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh và phu nhân chụp ảnh cùng vợ chồng cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton.

Trong suốt hai nhiệm kỳ anh Sáu Nam và tôi cùng trong Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và một nhiệm kỳ (khoá 8) làm Cố vấn Ban chấp hành Trung ương, chúng tôi cùng tham gia và chứng kiến sự lãnh đạo của Đảng đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện về nhiều mặt, quan hệ quốc tế được không ngừng mở rộng, vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao, an ninh quốc gia về chính trị và quốc phòng được giữ vững và củng cố. Với vai trò của Bộ trưởng Quốc phòng, rồi Chủ tịch nước, đồng chí Lê Đức Anh cùng với tập thể lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng. Anh là người có tầm nhìn sâu và rộng trong các vấn đề chiến lược của đất nước. Tham gia giải quyết các vấn đề lớn thuộc thẩm quyền Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương: nghiêng về phía "chắc", "cứng" trong chủ trương và giải pháp.

Trong quan hệ giữa anh Sáu Nam và tôi, chúng tôi hiểu nhau khá sâu từ thời chống Mỹ và xây dựng đất nước trong hoà bình, có lúc (anh Đỗ Mười là Tổng bí thư, anh Nông Đức Mạnh là Chủ tịch Quốc hội, anh Sáu Nam làm Chủ tịch nước, tôi làm Thủ tướng Chính phủ, nhiệm kỳ Ban chấp hành Trung ương khoá 7), thông tin nước ngoài bình luận anh Lê Đức Anh và tôi như "cặp bài trùng".

Ngần ấy thời gian biết anh Sáu Nam - Lê Đức Anh, có lúc cùng chiến trường, có lúc cùng ở cấp lãnh đạo đất nước, anh là một cán bộ tham mưu tầm cỡ, một vị tướng chỉ huy cương nghị, bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm; một Bộ trưởng Quốc phòng trong thời bình xây dựng có nhiều đổi mới trong tổ chức và bố trí lực lượng quân đội, lực lượng vũ trang nhân dân; một trong những người lãnh đạo quốc gia tầm cỡ trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là mọi việc đều hoàn hảo (và cũng không có ai được như vậy). Song nhìn vào chung nhất, 60 năm từ Cách mạng tháng 8/1945 cho đến nay, Anh đã đi suốt cuộc đời từ trong kháng chiến (chống Pháp, chống Mỹ hơn 30 năm chiến tranh trên chiến trường miền Nam) và giúp bạn đánh bại bọn diệt chủng Pôn Pốt ở Campuchia (gần 10 năm).

Công bằng mà đánh giá, cũng không có nhiều tướng lĩnh như anh Lê Đức Anh. Với ngần ấy công sức, tâm lực, cống hiến cho đất nước và Dân tộc, anh xứng đáng được trân trọng.

Tháng 11/2006

  • Võ Văn Kiệt

Nguyên Thủ tướng Chính phủ

Việt Báo
contentlength: 26454
Chia sẻ

Video nổi bật

Anh tàn nhưng không bao giờ phế, quá nghị lực so với qui định
00:00 / --:--

TIN Phóng Sự NỔI BẬT

Ngôi chùa có quan tài chứa xác ướp sư trụ trì ở miền Tây

Nhiều ngôi chùa ở Kiên Giang ướp xác sư trụ trì hàng chục năm, trước khi mang đi hỏa táng. Tại chùa Bần Bé (huyện Gò Quao), thi thể hòa thượng Danh Vơi đã được ướp 8 năm.

Bài được quan tâm