Dắt díu con thơ lên non theo chồng

00:52 26/08/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Cách mạng và ba chàng rể nhà họ Vi (kỳ cuối):

Dat diu con tho len non theo chong
Hội đồng Chính phủ họp tại chiến khu Việt Bắc. Từ trái sang: Bộ trưởng Phan Anh (người cắt tóc ngắn, mặc áo bà ba màu thẫm), Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó thủ tướng Phan Kế Toại (người cầm quạt), Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng (người trẻ tuổi đeo kính trắng), Thứ trưởng Bộ Y tế Tôn Thất Tùng...
Cuối năm 1946, bà Vi Kim Ngọc ghi trong nhật ký: “Anh Phạm Văn Đồng đến nhà nói: Mấy chị nên đưa các cháu bé ra khỏi Hà Nội để Chính phủ dễ bề đối phó với bọn Pháp và bọn Tàu Tưởng!”.

Thế là cả ba gia đình Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng không do dự bỏ lại Hà Nội mọi thứ của cải, tiện nghi để tản cư đến Vân Đình (nay thuộc tỉnh Hà Tây)...

Cơn lốc của cách mạng

Bà Nguyễn Văn Huyên một nách bốn con, con lớn tám tuổi (Nguyễn Kim Nữ Hạnh), con nhỏ mới tám tháng (Nguyễn Văn Huy).

Bà Hồ Đắc Di dắt díu hai con, con lớn tám tuổi (Hồ Thể Lan), con nhỏ bốn tuổi (Hồ Đắc Thuyên).

Còn bà Tôn Thất Tùng thì ẵm ngửa cậu con trai mới sinh, được Bác Hồ đặt tên cho là Tôn Thất Bách.

Thế là cả ba thiếu phụ họ Vi, vợ của ba trí thức lớn, lên đường đi tham gia kháng chiến.

Theo dòng dân chúng lũ lượt tản cư, người đi bộ, đi xe đạp, người ngồi xe kéo, xe bò, ba gia đình đến Vân Đình, ở nhờ trong ngôi nhà gạch của ông Dương Thiệu Chính. Dương Thiệu là một dòng họ lớn ở vùng này, có cụ Dương Khuê đỗ tiến sĩ thời Tự Đức, làm quan đến hàm thượng thư, tham tán Nha Kinh lược Bắc kỳ.

Tiếng súng đánh trả quân xâm lược từ Hà Nội hả hê vọng về từng đợt, từng đợt dài như trút niềm căm giận đã kìm nén từ lâu xuống đầu giặc Pháp. Hà Nội cháy sáng ở cuối trời xa...

Đêm 19-12-1946, đứng ngoài hiên lạnh một ngôi nhà dân ở Vân Đình, thấy ánh lửa cháy rực chân trời Hà Nội, lắng nghe tiếng súng vọng rền không dứt, giáo sư Hồ Đắc Di bất giác một mình thốt lên: “Thế là cuộc kháng chiến đã bùng nổ!”. Ngay đêm hôm ấy, lòng đầy cảm kích trước đức hi sinh cao cả của các quyết tử quân thành Hoàng Diệu, bên ánh đèn dầu lắt lay vì gió bấc, giáo sư ghi vội mấy dòng tâm huyết bằng tiếng Pháp vào một cuốn sổ tay đến nay vẫn còn giữ được (H.C. dịch ra tiếng Việt):

“Nếu như có một cuộc đời mà mỗi giây phút trôi qua đều có ý nghĩa nhân lên nghìn lần và mỗi chúng ta đều yêu thương đến say đắm, đều thèm sống đến mấy lần cuộc sống ấy vẫn chưa cảm thấy đủ… Phải, nếu quả có một cuộc đời như thế thì dù cuộc đời ấy chỉ dành cho cháu chắt chúng ta mai sau, tôi cũng sẵn sàng hiến dâng cả đời mình, chấp nhận mọi hi sinh, mất mát! Những ai đã từng sống kiếp đọa đày tủi nhục trong đêm dài nô lệ, hay ít ra cũng đã trải qua những năm tháng nhọc nhằn day dứt vì lương tâm, nhân phẩm, ắt sẽ lao theo cơn lốc của cách mạng một khi ánh lửa của nó đã rọi sáng tâm hồn…”.

Những ngày nguy biến

Dat diu con tho len non theo chong
Bảy em nhỏ, con các thiếu phụ họ Vi ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Từ trái sang: Nguyễn Kim Nữ Hiếu, Hồ Thể Lan, Hồ Đắc Thuyên, Tôn Thất Bách, Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Kim Bích Hà và Nguyễn Kim Nữ Hạnh
Ở nơi tản cư, ba bà mẹ không cho con nhỏ tha thẩn ngoài bờ đê mà suốt ngày nhốt chúng chơi trong nhà. Sáng sáng, các bà xếp chăn bông vào một góc giường, hễ nghe tiếng máy bay Pháp là bắt đám trẻ phải chui ngay vào gầm giường, phía dưới chỗ có xếp chăn bông chống mảnh bom!

Giáo sư Hồ Đắc Di, bác sĩ Tôn Thất Tùng ít khi tạt qua nhà. Hai ông đang bận túi bụi mổ xẻ cấp cứu thương binh trên các tuyến phẫu thuật tiền phương Hòa Xá - Đốc Tín, Kim Lũ - Cự Đà.

Sau hơn hai tháng chiến đấu bảo vệ từng mái nhà, góc phố Hà Nội, trung đoàn Thủ đô được lệnh rút lui chiến lược, lặng lẽ đi qua những bãi ngô giữa dòng sông Cái trong đêm lạnh mù sương.

Cơ quan Chính phủ chuyển lên Việt Bắc.

Trên đường lên Tuyên Quang, bác sĩ Tôn Thất Tùng nhận được một tấm thiệp của Bác Hồ, chữ đánh máy màu tím:

“Bác sĩ Tùng,

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và bộ trưởng Bộ Y tế báo cáo: chú làm việc rất hăng hái. Tôi rất vui lòng. Chú cứ gắng sức. Kháng chiến nhất định thắng lợi. Tổ quốc sẽ nhớ công những con hiền cháu thảo. Thím và cháu đều mạnh khỏe chứ? Tôi luôn luôn bình an. Gửi chú và thím lời chào thân ái và quyết thắng”.

Mấy lời vắn tắt mà muôn vàn ân cần.

Ngày 14-3-1947, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên đến Phú Thọ.

Ba hôm sau, bà Huyên, bà Di và bà Tùng cùng các con vượt qua những xóm làng vừa bị giặc càn quét, có nơi còn thấy máu đọng thành vũng trên mặt đường như ở đoạn quốc lộ 6 gần Trúc Sơn. Trên đường tản cư, từ Sơn Tây ba gia đình ghé vào làng Mông Phụ, quê cụ Phan Kế Toại. Nhưng không gặp cụ. Cụ và gia đình đã rời làng từ mấy hôm trước lên Việt Bắc.

Thế còn cụ Vi Văn Định đang ở đâu trong những ngày nguy biến đó?

Cuối năm 1946, Bác Hồ lo lắng cử ông Lê Văn Hiến đưa ôtô hòm đến đón cụ Vi Văn Định tản cư về làng Bật, quê hương cụ Bùi Bằng Đoàn, rồi sau đó đưa cả hai cụ cùng linh mục Phạm Bá Trực lên ATK Định Hóa, Thái Nguyên. Từ Định Hóa, các cụ vượt đèo De, núi Hồng sang Tân Trào.

Ba bà mẹ trẻ họ Vi vượt sông Thao lên Phú Thọ. Rồi từ đó đi bộ tiếp lên Tuyên Quang. Đêm ngủ lại trong một ngôi nhà vắng chủ. Thỉnh thoảng nghe tiếng nổ rền, cứ tưởng quân Pháp đánh tới nơi rồi, hóa ra là tiếng mìn tiêu thổ kháng chiến! Sáng sớm, dắt bế con tranh thủ dạo phố Tuyên Quang, có lẽ là lần cuối cùng trước khi đi tiếp vào vùng rừng thẳm. Phố xá chỉ toàn là cảnh đổ nát! Con đường nhựa bị cuốc đào thành rãnh, thành hào chữ chi ngoắt ngoéo cắt chéo.

Trong cuốn Kháng chiến nhất định thắng lợi, nhà lãnh đạo Trường Chinh viết: “Cuộc chiến tranh tiêu thổ của dân tộc VN thực hiện một cách rộng lớn làm cho nhiều người phải choáng óc (…). Có những người ngoại quốc tưởng dân VN điên nên đã tự ý phá trụi nhiều thành phố, nên đã tự tay mình đốt phá nhà mình. Không, dân VN không điên, mà đó là ngăn chặn tốc độ cơ giới của địch tiến vào khu căn cứ, không cho địch làm căn cứ vững chắc ở thành phố”.

Tại Hà Nội hiện có ba đường phố mang tên ba danh nhân khoa học được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh: phố Nguyễn Văn Huyên chạy ngang qua cổng Bảo tàng Dân tộc học; phố Hồ Đắc Di nối liền khu Nam Đồng với khu Trung Tự và phố Tôn Thất Tùng chạy qua trước cửa Trường đại học Y.

Rời Tuyên Quang, xuống thuyền ngược sông Lô lên Chiêm Hóa, huyện vùng xa hẻo lánh cách thị trấn Tuyên Quang 60km. Mỗi gia đình một con thuyền nhỏ. Mấy ngày liền chèo tay ngược sóng, vượt thác, vượt ghềnh. May mà đám trẻ không bé nào say sóng! Nơi cập bến cuối cùng là làng ải bên con ngòi Quẵng.

“Tôi đến bến đò Quẵng - giáo sư Hồ Đắc Di ghi lại - vào một buổi chiều tháng 5-1947. Rừng núi hoang vu, nhìn quanh chỉ thấy một màu xanh rợn, tưởng chừng chỗ nào cũng đầy muỗi sốt rét, thú dữ. Mùi lá mục ẩm ướt bốc lên. Trên cỏ cây, hàng đàn vắt vươn vòi chực hút máu.

Tôi nhìn vợ con, nhìn rừng núi, lòng buồn man mác...

Tuy lo lắng tôi vẫn cùng anh em lao vào công việc. Và mọi việc đã diễn ra không đến nỗi buồn như tôi tưởng”.

Giáo sư, bác sĩ, y tá, sinh viên nhanh chóng ổn định chỗ ở, xây dựng trường lớp và bệnh viện thực hành. Trường đại học Y kháng chiến ra đời giữa rừng xanh.

Lên non thiếp cũng lên theo
Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau…

Bà Vi Kim Ngọc ghi lại trong cuốn nhật ký hai câu ca dao xưa để tự nhắc mình quyết một lòng theo chồng lên non kháng chiến.

HÀM CHÂU

------------------

Tin, bài liên quan:

- Kỳ 4: Cơ hội "năm trăm năm rồng hé miệng một lần"
- Kỳ 3: Chàng rể Tôn Thất Tùng
- Kỳ 2: Chàng rể Hồ Đắc Di
- Kỳ 1: Chàng rể Nguyễn Văn Huyên

Việt Báo
contentlength: 12529
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Phóng Sự NỔI BẬT

Vượt chốt kiểm dịch, gà lậu "chạy vù vù" ra ngoại thành tiêu thụ?

Để chặn gà nhập lậu cơ quan chức năng đã lập hệ thống chốt kiểm dịch, kiểm soát trên các ngả đường dẫn vào Thủ đô. Tuy nhiên giới thương lái hàng ngày vẫn tuồn được cả tấn gà nhập lậu ra ngoại thành.

Bài được quan tâm

VẤN ĐỀ PHóNG Sự NÓNG NHẤT

Cam bay da cap

Cạm bẫy đa cấp

Với tỉ suất sinh lời trong mơ, đầu tư 9,3 tỉ đồng, thu về hơn 450 tỉ đồng, không chỉ đối tượng là nông dân, người già mà “máy..