Bức tường áo nâu

21:04 28/11/2004

Cuộc chia ly cho ngày thống nhất (kỳ 7):

Buc tuong ao nau
Các bà mẹ miền Bắc nồng nhiệt đón những đứa con từ miền Nam ra tập kết - Ảnh tư liệu
Trong cuộc họp mặt của các cựu học sinh miền Nam trên đất Bắc ngày ấy, vô số kỷ niệm về trường, lớp được nhắc lại.

Nhưng láy đi láy lại nhiều nhất trong những câu chuyện vẫn là những ngày đầu tiên họ đặt chân lên bãi biển Sầm Sơn, chia nhau tỏa vào những làng mạc khó nghèo đất Thanh Hóa...

Tiếng chày và ổ rơm

Tàu đến bãi biển miền Bắc. Mệt lả nhưng chúng tôi ai cũng háo hức, tranh nhau chạy xuống cầu phao để vào bờ. Cả một bức tường áo nâu vẫy gọi trên bãi cát, tiếng trống ếch của đội thiếu nhi rộn ràng.

Thời tiết Sầm Sơn buổi ấy thật tuyệt. Nắng vàng, gió se lạnh, biển xanh ngắt, mọi người vui cười hớn hở. Những bà mẹ chít khăn mỏ quạ, nhuộm răng đen, đội thiếu nhi tay cờ, tay hoa…

Chúng tôi được phân thành từng nhóm vào ở nhà dân để dưỡng sức trong thời gian đợi có danh sách về trường học hay cơ quan công tác. Ấn tượng đầu tiên là miền Bắc không giàu có như chúng tôi tưởng tượng. Cũng nhà tranh vách đất, cũng những chiếc áo vá vai và… rơm. Nhà nào cũng có một nùn rơm khổng lồ, lại thêm những ổ rơm trong góc nhà.

Ban tiếp đón phát cho chúng tôi những cái chăn bông thật dày và những áo len, áo bông thật to. Dân miền Nam chưa bao giờ nhìn thấy cái mền, cái áo nào vừa dày vừa nặng như thế cả. Một vài người quấn thử vào người, những người khác cười phá lên: “Trông y như con gà lôi”.

Nhưng chỉ mấy ngày sau chúng tôi đã được hưởng những đợt gió mùa đông bắc, đã thấy cái rét miền Bắc luồn vào tận trong xương, cắt da, cắt thịt. Ai cũng ốm nhom ốm nhách nên ngã bệnh hàng loạt, người ho sù sụ, người thở khò khè vì sưng phổi. Chui vào áo chưa đủ ấm, quấn thêm chăn chưa đủ ấm, các bác, các chị chủ nhà trước đó đã nhường cho chúng tôi cái phản gỗ duy nhất để ngủ, giờ lại nhường thêm ổ rơm.

Những ổ rơm còn ấm hơi người khiến những đứa học trò “ăn chưa no, lo chưa tới” mau chóng ngủ tít. Chúng tôi quên cả nghĩ xem bác chủ nhà cũng gầy gò mà chỉ phong phanh chiếc áo vải sẽ ngủ ở đâu. Vậy mà sáng sớm, vừa mở mắt đã thấy những nồi nước nóng được nấu sẵn để rửa mặt…

Nhưng đáng nhớ nhất lại là những tiếng chày, bây giờ nghĩ lại còn muốn rơi nước mắt. Cứ chiều đến, làng trên xóm dưới lại rộn lên tiếng chày, nhưng nghe kỹ thì không phải tiếng thậm thịch của cối giã gạo; các mẹ, các chị lại cứ xua tay lia lịa mỗi khi chúng tôi mon men đến gần. Rồi thì chúng tôi cũng phát hiện trong cái cối ấy là những củ chuối đủ loại, đủ cỡ. Các chị giã củ chuối nát ra, trộn với rau lang rồi thêm ít gạo, thế là thành một nồi cơm.

Chúng tôi ở trong nhà dân nhưng lại có chế độ ăn riêng, cứ đến bữa nhà bếp của ban tiếp đón lại đã soạn sẵn một mâm với liễn cơm trắng, đủ cả thịt cá, đậu trứng, rau canh. Bưng mâm về, ngồi trên phản ăn mà có lúc chúng tôi không nuốt nổi vì biết rằng sau bếp, gia đình chủ nhà chỉ có bát tương và nồi cơm độn lổn nhổn rau, chuối.

Nhưng bất kỳ sự chia sẻ nào của chúng tôi cũng bị từ chối rất ngọt ngào: “Các cháu cứ ăn đi, sức khỏe các cháu mới là quan trọng”. Đã vậy, tối tối, hễ dỡ được mớ khoai lang nào bác chủ nhà lại lùi cho chúng tôi ăn đỡ rét. Người miền Bắc không quen thân mật, xưng hô “má, con” với người lạ như trong Nam, nhưng những ngày ấy tình cảm mà chúng tôi nhận được từ các mẹ, các chị thật sự là tình cảm ruột thịt.

Sau này lớn thêm một chút, được học thêm một chút, chúng tôi mới hiểu vì sao miền Bắc có chính quyền của ta mà vẫn xơ xác, mới hiểu những người dân miền Bắc đã dốc đến hạt gạo cuối cùng trong nhà để phục vụ cuộc kháng chiến chín năm, có những gia đình hi sinh tới người cuối cùng.

Vậy mà ai cũng xuýt xoa thương chúng tôi phải sống trong tay giặc, thương chúng tôi phải xa gia đình, không có ai để gọi bằng ba, má.

Có một bà mẹ ở Vòng Xuyên đã sáng tác những câu nôm na để đón mừng mỗi khi chúng tôi và ông y tá của trường đến nhà mẹ hội họp: Việt Nam dân chủ cộng hòa/ Trong Nam ngoài Bắc thật là vui thay/ Ngàn năm mới có một ngày/ Trước là bác sĩ sau rày các em.

Khi trường chúng tôi chuyển xuống Hải Phòng, có một sáng chủ nhật tất cả chúng tôi đã rơi nước mắt khi thấy mẹ xuất hiện, tay nải chuối, tay chục trứng gà, miệng lại đọc thơ…

Những tấm bưu thiếp

Cái tết đầu tiên trên đất Bắc có cái rét buốt và hoa đào rực đỏ là lạ lẫm, còn thì cái tết miền Nam vẫn hiện diện với đầy đủ hương vị. Các thầy cô giáo, cấp dưỡng ở trường không chỉ giã giò, gói bánh chưng mà còn cố công học cách gói bánh tét, bánh ít, làm bánh in, bánh nổ.

Có thầy giáo chưa hề thấy cây mai vàng miền Nam nhưng qua miêu tả của học trò đã thức trắng đêm tỉ mẩn cắt giấy vàng, giấy xanh làm một cành mai giả cắm bên cạnh cành đào. Tất cả chỉ để chúng tôi vơi bớt nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương.

Những ngày ở Trường Học sinh miền Nam là những ngày thật bận rộn, thời gian biểu được xếp kín đặc những giờ học. Giờ ăn, tự học, sinh hoạt ngoại khóa, tăng gia sản xuất. Sau này chúng tôi được biết “không để thời gian nhàn rỗi” chính là nguyên tắc lớn nhất của Trường Học sinh miền Nam để chúng tôi nguôi nhớ, dịu thương với những gắn bó máu thịt đang cách xa ngàn dặm.

Nhưng làm sao nguôi được. Chúng tôi là những đứa trẻ trên dưới mười tuổi đã phải xa ông bà, cha mẹ, anh em, xa những dòng sông, dòng kênh, vườn cây trái. Chúng tôi học tập và theo dõi rất tỉ mỉ từng tin tức về miền Nam trên báo, đài, càng học càng nhận thức rõ rằng cái hẹn hai năm trở lại sẽ không thể thực hiện.

Những tấm bưu thiếp được phép gửi qua bưu điện giữa hai miền lúc ấy bao giờ cũng chỉ có vài chữ vắn tắt “Cả nhà vẫn mạnh”, “Cố gắng học tập, không cần lo cho nhà”… Chúng tôi cháy ruột cháy gan khi nghe tin về những cuộc thảm sát hàng loạt ở Vĩnh Trinh, Ngân Sơn, Hướng Điền, Sơn Mỹ, tin Rạch Lùm, Khánh Hưng, Khánh Hội bị thả bom rải thảm.

Có bạn gái ngã ra ngất xỉu khi nghe đài loan báo trại giam Phú Lợi bị đầu độc. Sáng nào có tin về các cuộc thảm sát là lập tức buổi tối ban giám hiệu nhận được hàng chục lá đơn viết bằng máu của học sinh xin được trở lại chiến trường miền Nam. Nhưng chúng tôi vẫn bắt buộc phải học xong rồi mới được “đi B”. Rồi khi bắt đầu vượt Trường Sơn lại thấy lưu luyến miền Bắc đến lạ.

Ngày giải phóng miền Nam, lớp học sinh tập kết chúng tôi đều đã trưởng thành. Nhiều bác sĩ, kỹ sư, cũng nhiều anh hùng, liệt sĩ. Nhiều cuộc hội ngộ mừng tủi sau 21 năm, cũng nhiều người lặng lẽ khóc thầm khi về quê nhà chẳng còn được gặp ai. Chúng tôi nhiều lần trở lại Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nam Định…

Vẫn tay bắt mặt mừng, vẫn thân tình chào đón, cơm rượu hể hả, nhưng những ngày xưa khi các bác, các anh chị nhường cho chúng tôi từng hạt gạo vẫn là những ngày chưa bao giờ mờ phai…

PHẠM VŨ ghi

Thượng tướng Trần Văn Trà:

"Bến Sầm Sơn rợp cờ đỏ sao vàng. Các đoàn đại biểu, các đoàn thể, các mẹ, các chị miền Bắc áo nâu khăn thâm, thân tình và niềm nở đón tiếp chúng tôi. Sao mà cảm động, tấm lòng những bà mẹ ở hai đầu đất nước nào có khác gì nhau đâu.

Vẫn tình thương đậm đà đối với các con chiến sĩ. Từng dãy nhà dựng tạm nhưng sạch sẽ rộng rãi, trang hoàng đẹp đẽ nằm dọc ngang trên bãi. Trưởng ban tổ chức đón tiếp lực lượng tập kết là anh Nguyễn Văn Tạo, bộ trưởng Bộ Lao động trong Chính phủ ta.

Anh Tạo là một đồng chí cán bộ cách mạng lão thành mà dân ta hầu như ai cũng biết tiếng, quê Nam bộ và cũng đã xa Nam bộ nhiều năm rồi. Anh ôm chầm lấy tôi một cách thân thiết và nói:

- Bác Hồ giao cho tôi công việc này và dặn đi dặn lại: Chú là người miền Nam, chú hiểu tâm tư tình cảm cũng như sự cần thiết trong sinh hoạt đời sống của các cô các chú trong đó ra, cả các cụ lớn tuổi cũng như các cháu thiếu nhi.

Vậy chú phải thay mặt Đảng, Chính phủ tiếp đón thế nào để tỏ được sự yêu thương lo lắng thắm tình của Đảng và Bác đối với đồng bào miền Nam ruột thịt.

Chú biết rồi, ở miền Nam không có cái rét cắt ruột như ở miền Bắc đâu, phải có đủ quần áo ấm và chăn bông cho tất cả, có khăn quàng cổ cho cụ già và đủ xà phòng, khăn lau cho các cô có con mọn.

Tôi cố dằn những giọt nước mắt cứ muốn trào ra vì xúc động. Thế mà tôi cứ tưởng lòng mình khô cằn rồi vì đã bao phen trước sự hi sinh chết chóc đau thương của đồng bào, đồng chí, tôi chỉ thấy nhức nhối trong tim và uất hận trong lòng.

Cũng với tấm lòng thương yêu vô hạn và chu đáo đến từng chi tiết như vậy của Bác, năm 1948, khi phái đoàn Nam bộ do tôi dẫn đầu lần đầu tiên ra Việt Bắc, Bác đã phái chị Hai Sóc đến chăm lo cho chúng tôi từng miếng ăn, nơi ở.

Chị Hai Sóc người quê Bà Điểm, Hóc Môn, vì công tác đã ở Việt Bắc từ trước, đến với chúng tôi bằng tấm lòng của một người chị hai Nam bộ, săn sóc chí tình những đứa em vất vả xa nhà.

Bác lo cho cả nước, Bác lo cho từng người, Bác rèn từng cán bộ, Bác nâng từng kẻ có sai lầm, Bác biết rõ đặc điểm từng địa phương, Bác nhìn thấu chiều sâu từng tấm lòng. Việc lớn Bác chu toàn, việc nhỏ Bác không sót".

---------------------

+ Kỳ tới: 20 năm... cách một mái chèo

----------------

Tin, bài liên quan:

+ Kỳ 6: Một chuyến tàu bão táp
+ Kỳ 5: Quy Nhơn, 300 ngày trong câu hát phân ly
+ Kỳ 4: Cà Mau: 200 ngày và 50 năm
+ Kỳ 3: Thời gian đệm - nhìn từ khoảng sâu ký ức
+ Kỳ 2: Đi và ở
+ Kỳ 1: Vì có lửa nên có khói

Việt Báo
contentlength: 14862
Chia sẻ

Video nổi bật

Người đàn ông chọc dao đổ chất lạ vào mít, xem ngay để tránh nha mọi người
00:00 / --:--

Bài được quan tâm