Tư nhân tiếp cận ODA: Băn khoăn tín dụng lạc hướng

14:48 09/05/2018
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Phải lường trước tình huống tín dụng đi không đúng hướng khi các tổ chức tín dụng được vay vốn ODA giá rẻ và cho vay lại.

Phải lường trước tình huống tín dụng đi không đúng hướng khi các tổ chức tín dụng được vay vốn ODA giá rẻ và cho vay lại. Việc này đòi hỏi sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của NHNN - PGS.TS Đinh Trọng Thịnh (Học viện Tài chính) lưu ý.

Tu nhan tiep can ODA: Ban khoan tin dung lac huong
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh (Học viện Tài chính).

Tín dụng nên đi hướng nào?

PV: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) vừa công bố dự thảo Nghị định về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, trong đó có quy định khu vực tư nhân được tiếp cận và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi.

Cụ thể, dự thảo nghị định có quy định 4 hình thức tiếp cận và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi đối với khu vực tư nhân gồm:

Tiếp cận và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong khuôn khổ hạn mức tín dụng cho vay đến tổ chức tài chính, tín dụng trong nước để thực hiện các hoạt động phù hợp với điều ước quốc tế, thỏa thuận về vốn ODA, vốn vay ưu đãi và tuân thủ quy trình cho vay của tổ chức tài chính, tín dụng;

Tham gia với tư cách một bên góp vốn trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) có sử dụng vốn ODA/vốn ưu đãi làm làm vốn đầu tư của Nhà nước;

Vay lại nguồn vốn ODA/vốn ưu đãi qua hệ thống ngân hàng thương mại theo phương thức ngân hàng thương mại chịu rủi ro tín dụng;

Tham gia thực hiện chương trình, dự án hỗ trợ khu vực tư nhân của cơ quan chủ quản.

Theo dự thảo này, sẽ có hai nhóm doanh nghiệp tư nhân tiếp cận với nguồn vay ODA là doanh nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ (ngân hàng thương mại).

Đối với ngân hàng thương mại, nguồn vốn ODA được coi như một nguồn vay được có hạn mức và phù hợp các điều ước quốc tế... Đối với nhóm doanh nghiệp kinh doanh, hai phương cách tiếp cận là: vay từ các tổ chức tín dụng hoặc vay trực tiếp theo những chương trình, dự án được chỉ định.

Ông bình luận như thế nào về chủ trương trên? Để tư nhân tiếp cận các khoản vay ODA, những thuận lợi và khó khăn cần lường trước như thế nào?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Từ những năm 2007-2008, chúng tôi đã đề nghị cho các doanh nghiệp tư nhân được quyền tiếp cận với vốn vay ODA. Lúc đó nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng đề xuất này không hợp lý bởi đã là vốn ODA thì người đi vay là Chính phủ và Chính phủ sử dụng nguồn vốn đó.

Thế nhưng, cách đây chừng 3-4 năm, cơ quan quản lý nhà nước đã có văn bản cho phép khu vực kinh tế tư nhân được quyền tiếp cận nguồn vốn vay ODA. Dù vậy, văn bản đó chỉ mang tính chất chung chung, không có một phương thức tiếp cận cụ thể với các hình thức tư nhân khác nhau.

Giờ đây, dự thảo nghị định mà Bộ KHĐT đề xuất chính là một bước cụ thể hóa quy định trên.

Dự thảo đã chỉ hẳn ra rằng, doanh nghiệp tư nhân nếu hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ (ngân hàng thương mại tư nhân và tổ chức tín dụng tư nhân) được phép tiếp cận nguồn vốn ODA bằng những hình thức nào, cách thức ra sao...

Nguồn vốn ODA này, các doanh nghiệp nói trên có thể vay trực tiếp hoặc vay thông qua các cơ quan nhà nước Việt Nam với hạn mức theo quy định.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, trước nay dù đã có các văn bản cho phép doanh nghiệp tư nhân được quyền tiếp cận vốn vay ODA nhưng chưa chỉ ra được rằng những doanh nghiệp nào, ở lĩnh vực nào được quyền tiếp cận vốn ODA.

Và đến dự thảo nghị định nói trên, Bộ KHĐT đã chỉ ra những hình thức và cách thức tiếp cận vốn ODA của các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng nếu tham gia các công trình hợp tác công tư (PPP) hoặc tham gia dưới những hình thức phải góp vốn khác.

Dĩ nhiên, vay lại ODA vẫn là một vấn đề khó khăn vì doanh nghiệp vay lại qua ngân hàng thương mại và ngân hàng thương mại phải chịu rủi ro của khoản vay ODA. Điều đó có nghĩa, ngân hàng sẽ phải kiểm tra, giám sát tài sản thế chấp, hiệu quả kinh doanh của dự án mà doanh nghiệp đang tiến hành và họ sẽ cho vay với yêu cầu như cho vay thông thường mặc dù đây là vốn vay ODA.

Như vậy, khoản vay này, ngoài mức lãi suất ưu đãi nhất định, còn cộng thêm chi phí rủi ro mà ngân hàng thương mại phải gánh, khiến tựu chung lại, khoản vay sẽ có lãi suất tương đối cao.

Nhưng đối với doanh nghiệp tư nhân sản xuất kinh doanh, bởi việc vay được vốn trước nay rất khó khăn nên dẫu mức lãi suất vay vốn ODA thông qua ngân hàng thương mại có cao một chút vẫn rất tốt với họ.

Với văn bản này, các doanh nghiệp tư nhân đã được các cơ quan quản lý nhà nước chú tâm, để ý cung cấp nguồn vốn hơn, để doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốn vay giá rẻ, đặc biệt là vốn ODA.

Đây là bước chuyển rất mạnh theo định hướng của Đảng và Nhà nước là chú ý hơn đến việc tăng cường năng lực tài chính và sức mạnh kinh tế kỹ thuật cho các doanh nghiệp tư nhân.

Đây là điều đáng mừng, nhưng rõ ràng phải có quy định cụ thể hơn thì doanh nghiệp mới có thể tiếp cận được nguồn vốn vay ODA. Ví dụ: có ưu đãi thì ưu đãi lãi suất bao nhiêu, doanh nghiệp nào thuộc lĩnh vực nào được phép tiếp cận vốn ODA từ các ngân hàng thương mại...

PV: Xét kỹ từng trường hợp, đối với tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại hiện vẫn đang vướng mắc trong vấn đề huy động vốn với lãi suất hợp lý để cho vay lại với mức lãi suất cạnh tranh hơn, nếu được tiếp cận nguồn ODA, khó khăn nói trên có giải quyết được không?

Trong trường hợp dòng tín dụng không đi đúng hướng, tác động hỗ trợ doanh nghiệp trong nước có được như kỳ vọng không hay thay vào đó là gì? Nếu dòng vốn đổ vào bất động sản do những mối quan hệ lợi ích, thân hữu, rủi ro sẽ ở mức nào? Và làm cách nào để hạn chế những rủi ro này?

Tu nhan tiep can ODA Ban khoan tin dung lac huong

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng tư nhân có thể có nguồn vốn giá rẻ hơn cho hoạt động kinh doanh của họ.

Trước nay, các đơn vị này phải huy động vốn trên thương trường để cho vay. Đặc biệt, những ngân hàng này thường có nguồn vốn nhỏ hơn so với các ngân hàng của Nhà nước chuyển sang cổ phần, nên việc huy động vốn trên thị trường của họ thường khó khăn và mức lãi suất huy động họ đưa ra đôi khi cao so với bình thường. Nếu không đưa ra mức lãi suất cao thì sẽ rất khó thu hút được nguồn vốn từ các tầng lớp dân cư và doanh nghiệp trong xã hội.

Vì lẽ đó, khi có bước chuyển về cho vay hay chuyển động tốt trong hoạt động kinh tế thì các ngân hàng thương mại tư nhân và tổ chức tín dụng tư nhân thường là những người đầu tiên nâng lãi suất huy động.

Nếu các đơn vị này được cung cấp nguồn vốn giá rẻ thì sẽ giải tỏa được cho họ phần nào đó nguồn vốn trong kinh doanh, dù nguồn vốn ấy chỉ trong giới hạn Nhà nước quy định, giúp ngân hàng hạ lãi suất huy động, làm cho hoạt động của các đơn vị này tốt hơn, khả năng cạnh tranh cao hơn và những khoản vay có giá rẻ hơn. Từ đó, họ có thể cạnh tranh và mở rộng được hoạt động trên thị trường.

Khi các doanh nghiệp tài chính, tiền tệ tư nhân được quyền tiếp cận nguồn vốn ODA, đương nhiên họ phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan quản lý tài chính tiền tệ, mà cụ thể ở đây là của NHNN. Thực ra, việc này không phải là mới.

Trước đây, có thời gian các ngân hàng Việt Nam gặp khó khăn về thanh khoản, một số tổ chức tài chính quốc tế như IMF, ADB đã cho một số tổ chức tài chính, tín dụng của Việt Nam vay vốn với lãi suất thấp để các đơn vị này cho vay lại trong thị trường tài chính trong nước.

Ngoài những ngân hàng lớn có cổ phần của Nhà nước, người ta cũng chỉ định một số ngân hàng cổ phần tư nhân và họ được phép cho vay ở một số lĩnh vực được NHNN và các cơ quan tài trợ vốn đồng ý.

Thế nhưng, những hoạt động đó trước đây chỉ là những tài trợ đột xuất khi các ngân hàng trong nước gặp khó khăn. Còn bây giờ, nó trở thành một công việc thường xuyên, ngân hàng được vay vốn ODA và sử dụng chúng, dĩ nhiên là trong những lĩnh vực được khống chế và dưới sự kiểm tra, giám sát của NHNN.

Một điểm cần lưu ý, NHNN phải lường trước khả năng dòng tín dụng đi không đúng hướng, đổ vào một số lĩnh vực không khuyến khích như bất động sản, chứng khoán, BOT...

Bệnh kinh niên của các ngân hàng là khi huy động được nguồn vốn giá rẻ và họ gặp khó khăn hay gặp trở ngại nào đó trong cho vay, thì thông thường họ sẽ cho vay một cách dễ dãi hơn, không đúng với định hướng chung. Điều này rất nguy hiểm, không chỉ với bản thân ngân hàng đó mà đối với cả hệ thống ngân hàng nói chung.

Việc phá sản các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại hiện nay dù đã được cho phép, nhưng thực ra chúng ta vẫn chưa dám thực thi do chưa có tiền lệ, chưa thành thói quen và chúng ta chưa lường hết chấn động nếu cho một ngân hàng phá sản. Vì lẽ đó, việc kiểm tra, giám sát đối với các ngân hàng khi họ được tiếp cận và sử dụng nguồn vốn vay ODA là rất quan trọng.

Cơ quan cung cấp vốn chắc chắn sẽ có sự kiểm tra, giám sát, nhưng sẽ không thể sâu sát được. Do đó, các ngân hàng phải là người chịu trách nhiệm chính với hoạt động sử dụng vốn của mình.

Ngoài ra, cần phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của NHNN. Những doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn ODA chính là những điểm mà các cơ quan chức năng của NHNN phải đặt trọng tâm chú ý để kiểm tra, giám sát, từ đó buộc họ phải sử dụng nguồn vốn đúng mục tiêu.

Nếu ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng tư nhân cho vay không đúng đối tượng, lĩnh vực ngành nghề, yêu cầu ưu tiên của chủ cung cấp vốn là Nhà nước, thì những đơn vị đó sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, đồng thời bị cắt ngay nguồn vốn.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận cách nào?

PV: Đối với khối doanh nghiệp kinh doanh, nhiều người nghi ngại, có khả năng, nguồn vốn ưu đãi được phân bổ cho một vài hoặc một nhóm doanh nghiệp nhiều tiềm lực, thỏa mãn các điều kiện vay, điều đã xảy ra ở nhiều quỹ tín dụng ưu đãi hiện nay. Ông có chia sẻ với những nghi ngại nói trên không? Với kịch bản này, rủi ro sẽ là gì?

Làm cách nào để đảm bảo sự công bằng để các doanh nghiệp tư nhân được công bằng tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi này? Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm các nước như thế nào?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Đúng là việc phân bổ vốn tín dụng của các ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng thương mại tư nhân và tổ chức tín dụng tư nhân hiện nay đang có ưu ái với những dự án lớn, những chủ đầu tư lớn.

Ngay trong quy định của dự thảo này cũng có phần nào đó ưu ái cho các đơn vị đó, bởi nếu doanh nghiệp có góp vốn tham gia vào các dự án hợp tác công tư (PPP) thì bản thân doanh nghiệp là chủ thể đã có năng lực tài chính tương đối lớn và tốt.

Ở đây phải làm rõ hơn những điều kiện của dự án để doanh nghiệp có quyền tiếp cận với nguồn vốn giá rẻ. Thực tế, đối với nhiều dự án BOT, nhất là trong lĩnh vực giao thông, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng mức đầu tư dự án BOT chỉ cần 10 -15%, còn lại chủ đầu tư dựa vào nguồn vốn đi vay từ ngân hàng.

Không ít ngân hàng đang cho vay những dự án BOT rất lớn và nếu có rủi ro xảy ra, ví dụ dự án không thu được phí hoặc tính toán không đầy đủ... thì các ngân hàng phải gánh đầu tiên.

Nói không ngoa rằng, các chủ đầu tư BOT đang bắt các ngân hàng làm con tin để từ đó buộc các cơ quan quản lý nhà nước phải giải quyết cho họ, nếu không họ ỳ ra là chết ngân hàng, khi ấy sẽ kéo theo cả nền kinh tế. Vì thế, không phải tự nhiên mà các chủ đầu tư BOT làm mình làm mẩy được với các cơ quan quản lý nhà nước.

Việc quyết định cho doanh nghiệp nào thuộc lĩnh vực nào được tiếp cận nguồn vốn vay ODA cần được xem xét cẩn trọng và phải có sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.

Vậy còn những doanh nghiệp thuộc các thành phần khác trong nền kinh tế, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm thế nào để tiếp cận nguồn vốn này? Đó là một câu hỏi lớn.

Dự thảo nghị định Bộ KHĐT đưa ra chưa quy định cụ thể vấn đề này. Cần phải có những chỉ dẫn cụ thể để các doanh nghiệp nhỏ và vừa thấy được các điều kiện, căn cứ, cơ sở một cách cụ thể để họ có thể vững tin đến ngân hàng vay vốn mà không cần xin-cho, tránh lợi ích nhóm hoặc khả năng doanh nghiệp phải lót tay cho ngân hàng, các cơ quan quản lý thì mới được vay vốn ODA.

Về vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp được vay vốn ưu đãi, ở mỗi nước có một cách thức và cơ chế khác nhau. Nhưng thông thường, Nhà nước sẽ thông qua các quỹ hỗ trợ, các hiệp hội trong từng ngành hàng, từng địa phương để hỗ trợ bằng những khoản vay có lãi suất ưu đãi. Việc hỗ trợ này không phải hỗ trợ đại trà.

Ở Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan (Trung Quốc)... thường đây là các doanh nghiệp thị trường nên họ rất mong muốn để doanh nghiệp tự mình bươn chải trên thị trường. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì Nhà nước có ưu đãi, khuyến khích và sự hỗ trợ đó nằm trong giới hạn đã được quy định.

Việt Nam cũng nên lưu tâm đến điều này và dù việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa không đơn giản, nhưng chúng ta hoàn toàn có phương thức, cách thức hỗ trợ cho thích hợp.

PV: Một điều rất cần lưu ý là nợ công Việt Nam đang ở mức sát trần và chúng ta đã phải đi vay để đảo nợ và trả nợ gốc. Điều này khiến chủ trương cho vay ODA tiềm ẩn nhiều rủi ro như thế nào?

Nhìn trong tổng thể, theo ông, thời điểm này có phù hợp để Việt Nam áp dụng việc cho tư nhân vay ODA hay không? Nếu vốn không phải là cản trở lớn nhất cho doanh nghiệp tư nhân phát triển, thì chúng ta nên ưu tiên mục tiêu nào trước và nên làm như thế nào?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Việc nợ công và nợ vay nước ngoài sát trần đang là một vấn đề lớn trong hoạch định vay nợ của Chính phủ, cũng như của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, việc nợ vay chuyển hướng như vậy là bước đi dần dần, không phải ngay một lúc.

Mặt khác, Việt Nam đang trong quá trình tái cấu trúc nợ vay, kể cả nợ công lẫn nợ vay nước ngoài, từ vay nợ ngắn hạn nhiều chuyển sang vay nợ dài hạn và như vậy, Việt Nam sẽ có khả năng trả được nợ vay tốt hơn.

Đối với nợ vay nước ngoài, Việt Nam vẫn đang cân đối lại, một mặt Việt Nam phải vay nợ để trả khoản nợ trước (tái cấu trúc nợ), một mặt Việt Nam xem xét để vẫn tiếp tục vay để đầu tư phát triển, nhưng mức vay không tăng cao như những năm trước.

Một điều khác nữa, nợ này liên quan đến GDP, nếu GDP tăng lên thì giới hạn nợ sẽ tụt xuống và nó càng cao thì giới hạn nợ sẽ càng xa ra. Điều quan trọng là trước đây Việt Nam đang hướng nợ vay chủ yếu vào khu vực chính phủ.

Giờ chúng ta muốn giảm thiểu, thậm chí ngừng các khoản vay không mang lại hiệu quả, ngừng cho DNNN vay và thay vào đó là cho doanh nghiệp tư nhân vay. Nếu doanh nghiệp tư nhân vay vốn mà sử dụng hiệu quả thì quá tốt.

Nhưng vốn có phải là khúc mắc lớn nhất đối với doanh nghiệp tư nhân hay không? Câu trả lời là không. Vốn là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng mà doanh nghiệp tư nhân khúc mắc, vốn nhỏ làm cho suy nghĩ của doanh nghiệp nhỏ, cách hành động cũng nhỏ.

Quan trọng nhất chính là việc làm thế nào để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam liên kết, liên doanh lại với nhau, dựa vào nhau để tạo ra một chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị đủ lớn, có được những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam thực thụ.

 
VietBao.vn
contentlength: 23781
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Cô gái đánh tráo iPhone 7 nhanh như chớp tại cửa hàng điện thoại
00:00 / --:--

VẤN ĐỀ KINH Tế NÓNG NHẤT

Chu tich BIDV Tran Bac Ha bi bat va nhung he luy

Chủ tịch BIDV Trần Bắc Hà bị bắt và những hệ lụy

Sau vụ rúng động tin bầu Kiên bị bắt và thị trường tài chính chao đảo hồi tháng 8/2012 thì mới đây, chiều ngày 21/02/2013, thị..

Doi 100 Usd phat 90 trieu

Đổi 100 Usd phạt 90 triệu

Một người dân ở Cần Thơ đã bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt lên tới 90 triệu đồng chỉ vì đổi tờ 100 USD tại tiệm vàng.