Thị trường thiết bị viễn thông hậu WTO: Cái nhìn từ Trung Quốc

22:35 08/09/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam sẽ phải mở cửa ngành sản xuất thiết bị viễn thông cho sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài.

Mặc dù đã có một số dự đoán về tương lai ngành này sau khi gia nhập, nhưng người ta cũng chỉ mới đưa ra được một phác họa sơ lược về hình hài của nó với những chi tiết đại loại như sự cạnh tranh sẽ gay gắt hơn do sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài khi hàng rào đầu tư và kỹ thuật bị rỡ bỏ, kết cục là một số doanh nghiệp trong nước sẽ bị phá sản, thị trường sẽ bị các doanh nghiệp nước ngoài lấn át, giá cả và chất lượng dịch vụ sẽ vận động theo hướng có lợi cho người tiêu dùng v.v...

Những câu hỏi thu hút sự quan tâm đặc biệt như chiếc bánh thị phần sẽ được phân chia thế nào, sự cạnh tranh bất lợi với doanh nghiệp nước ngoài có bóp chết hoặc kìm hãm doanh nghiệp nội địa bất chấp những nỗ lực cải thiện tính cạnh tranh của họ không v.v... chưa được trả lời thỏa đáng.

Bài viết này sử dụng sự trải nghiệm của Trung Quốc sau gia nhập WTO, đặc biệt trong phân khúc thị trường điện thoại di động (mobile), để có thể phần nào giúp cho bạn đọc hình dung tương lai của ngành thiết bị viễn thông ở Việt Nam.

Cũng như Việt Nam, kể cả trước thời điểm gia nhập WTO, Trung Quốc vẫn kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu và sản xuất các thiết bị viễn thông nước ngoài, với mục đích nâng đỡ ngành công nghiệp viễn thông và các ngành công nghệ thông tin nội địa. Tuy vậy, Trung Quốc cũng phải mở cửa cho doanh nghiệp Mỹ vào ngành này theo một thỏa thuận thương mại song phương ký với Mỹ.

Ngoài ra, Trung Quốc còn đồng ý thi hành một chính sách công nghệ trung lập đối với việc cung cấp các dịch vụ viễn thông, tức là cả nhà cung cấp nước ngòai và nội địa đều có thể tự lựa chọn công nghệ và thiết bị để cung cấp dịch vụ. Điều này tương đương với việc xóa bỏ rào cản kỹ thuật vào thị trường Trung Quốc.

Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc còn phải thực hiện quy chế “đối xử quốc gia” đối với các thiết bị viễn thông nhập khẩu và xóa bỏ các hạn chế về đầu tư đối với các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thiết bị viễn thông ở Trung Quốc.

Một điều đáng chú ý là trước khi gia nhập WTO năm 2001, Trung Quốc chủ yếu chỉ kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu và sản xuất thiết bị tổng đài và điện thoại bàn truyền thống, và mở cửa khá rộng trong một số tiểu ngành còn lại. Thí dụ, 17 liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã kiểm soát tới 93,6% thị phần tiểu ngành thiết bị đàm thoại vô tuyến năm 2000. Các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 6,4% thị phần.

Riêng đại gia Motorola, vì nhanh chân hơn (chủ tịch tập đoàn này đã đến Thượng Hải từ năm 1986 bàn việc xâm nhập thị trường Trung Quốc với đương kim chủ tịch nước Giang Trạch Dân, lúc đó mới chỉ là một quan chức nhỏ ở đây) nên đã chiếm đến 31% thị phần thị trường mobile năm 2000.

Ba năm sau ngày Trung Quốc gia nhập WTO, tình hình thị phần có những xáo trộn lớn. Mặc dù Motorola vẫn không ngừng đầu tư vào nghiên cứu và ứng dụng, và sản xuất với tổng số vốn lên tới 3,4 tỷ đôla, cao nhất trong tất cả các doanh nghiệp phương Tây, các đối thủ đáng gờm của nó như Nokia cũng đã rót vào Trung Quốc 2.4 tỷ đôla và xây dựng một cụm liên hợp lớn sản xuất mobile và các cấu kiện gần Bắc Kinh. Tập đoàn Samsung Electronics cũng đã kịp có mặt và thiết lập thị phần vững chắc tại Trung Quốc sau năm 2001.

Thị trường càng nóng bỏng hơn với sự xuất hiện và ngày càng tăng trưởng nhanh cả các doanh nghiệp địa phương. Nếu như năm 1999, chúng mới chiếm có 3% thị phần thì con số này đã tăng lên tới 26% vào năm 2004. Do vậy, thị phần của Motorola đã giảm xuống còn 28% năm 2004, bất chấp các nỗ lực đầu tư và khuyến mại (xem bảng dưới đây minh họa thị phần của một số đối thủ chính trên thị trường Trung Quốc năm 2004).

Sự lớn mạnh nhanh chóng của các đối thủ địa phương trong ngành viễn thông, rõ nét nhất là trong phân khúc mobile, là điều không thể phủ nhận. Rất nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đang có kế hoạch tăng gấp đôi, gấp ba năng lực sản xuất của mình, làm ngập thị trường với những sản phẩm mobile giá rẻ, kéo tụt mức giá chung của thị trường.

Chỉ riêng trong năm 2003, giá trung bình của mobile đã giảm đi 15%, xuống còn 170 đôla/chiếc. Sự cạnh tranh về giá và thị phần này đã thực sự làm đau đầu kể cả các đại gia nước ngoài như Motorola.

Sự phản ứng của các đại gia này như tập trung vào các nỗ lực thiết kế, nghiên cứu để tung ra các dòng chip mới, các mẫu mã mới (riêng Motorola đã tuyển mộ tới 1.300 kỹ sư và hàng trăm nhà thiết kế người Trung Quốc cho các nỗ lực này) cũng không ngăn chặn được sự bành trướng của các doanh nghiệp bản địa, vì những doanh nghiệp này cũng ngày càng tập trung vào khắc phục những mặt yếu kém này của họ, kể cả trên phương diện công nghệ, và không ngừng tung ra những mẫu mã mới đáp ứng thị hiếu thời thượng của người dùng.

Một thí dụ là Ningbo Bird Co., một công ty sản xuất mobile Trung Quốc, đứng hàng thứ 6 ở Trung Quốc, đã sản xuất tới 7 triệu mobile trong năm 2003 (so với 17 triệu của Motorola) và đã mở thêm 2 nhà máy năm 2004 để tăng gấp 3 sản lượng của nó, cũng không ngừng đầu tư vào công tác nghiên cứu và triển khai cũng như thiết kế mẫu mã, với kết quả là 15% sản phẩm của nó có mẫu mã riêng.

Với tốc độ tăng năng lực sản xuất chóng mặt như vậy, các đối thủ đang có mặt ở Trung Quốc đã phải nhìn ra thị trường thế giới làm lối thoát cho tình trạng dư thừa công suất trong nước. Chẳng hạn, Motorola đã xuất khẩu được 2 tỷ trong số 5,7 tỷ đôla trị giá sản lượng mobile sản xuất tại Trung Quốc.

Một giải pháp khác giảm áp lực cạnh tranh thị phần là liên doanh, liên kết với nhau. Càng ngày càng có nhiều mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối thủ với nhau như giữa Motorola với TCL International Holdings, một nhà sản xuất mobile ở Quảng Đông, hoặc với Eastcom, một doanh nghiệp nhà nước ở gần Thượng Hải, ra đời, theo đó phía Motorola cung cấp các chip vi mạch để các đối tác trong nước lắp ráp vào sản phẩm mobile của mình.

Qua sự trải nghiệm với mở cửa thị trường mobile ở Trung Quốc, ta có thể rút ra mấy nhận định như sau cho ngành thiết bị viễn thông nói chung ở Việt Nam sau khi gia nhập WTO, có xét đến năng lực cạnh tranh mạnh hơn của doanh nghiệp Trung Quốc so với doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ nhất, gần như chắc chắn các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chiếm lĩnh đa phần thị trường Việt Nam, bất chấp những nỗ lực cải tổ, tăng cường cạnh tranh như hiện nay và sắp tới giữa các doanh nghiệp trong nước.

Nếu xét đến sự “nuông chiều”, bảo hộ quá mức của Việt Nam cho các doanh nghiệp trong nước kể cả cho đến thời điểm hiện nay (so với sự mở cửa của Trung Quốc ngay từ trước khi gia nhập WTO, như nêu trên), và hậu quả tương ứng là tính cạnh tranh và khả năng sống còn thấp so với các đối thủ nước ngoài, thì những lo ngại rằng thị trường thiết bị viễn thông Việt Nam sẽ bị thôn tính hoàn toàn bởi doanh nghiệp nước ngoài không phải là hoàn toàn vô căn cứ.

Thứ hai, người tiêu dùng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung sẽ được hưởng lợi lớn từ việc cạnh tranh gay gắt trên thị trường thiết bị viễn thông, như kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy. Mức giá hạ vài chục phần trăm cho một loại sản phẩm nào đó chắc chắn không phải là chuyện hiếm. Đương nhiên, chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng sẽ được cải thiện không ngừng.

Thứ ba, sự đầu tư và mở rộng thị trường thiết bị viễn thông sẽ làm tăng số lượng việc làm và tiền lương trong ngành này và các ngành liên quan, đặc biêt là lao động kỹ thuật cao (như kỹ sư công nghệ, thiết kế viên). Đáp ứng đầy đủ nhu cầu này là một thách thức lớn với Việt Nam. Vì vậy, vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy đào tạo và nâng cao trình độ đội ngũ kỹ thuật viên là điều hết sức quan trọng.

Thứ tư, nếu tích cực đầu tư vào công nghệ và thiết kế, cũng như hợp lý hóa sản xuất, tiêu thụ thì các doanh nghiệp nội địa hoàn toàn có thể “chơi tay bo” với các đại gia nước ngoài, và thậm chí hoàn toàn có khả năng giành giật lại thị phần từ tay họ, như thành công của Ningbo Bird cho thấy.

Như vậy, thoát khỏi chiếc ô nâng đỡ của nhà nước không có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước sẽ mất hết sức sống. Ngược lại, chỉ có cạnh tranh và cạnh tranh thì chúng mới có khả năng tồn tại và phát triển. Đây là một bài học lớn cho chính phủ và những người theo chủ nghĩa dân tộc, bảo thủ.

Và cuối cùng, cạnh tranh gay gắt sẽ mang đến thêm 2 mối lợi nữa: (1) sự hợp tác liên doanh giữa đối tác nước ngoài với trong nước sẽ được tăng cường, thông qua đó chuyển giao công nghệ và các hiệu ứng lan truyền hữu ích khác sẽ tăng đáng kể; (2) sự cạnh tranh gay gắt và năng lực sản xuất dư thừa sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tìm đường xuất khẩu sản phẩm ra thế giới, tăng cường thêm vai trò của Việt Nam như một bãi đỗ cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu.

(Theo TBKT VN)

contentlength: 12326
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

VẤN ĐỀ KINH Tế NÓNG NHẤT

Chu tich BIDV Tran Bac Ha bi bat va nhung he luy

Chủ tịch BIDV Trần Bắc Hà bị bắt và những hệ lụy

Sau vụ rúng động tin bầu Kiên bị bắt và thị trường tài chính chao đảo hồi tháng 8/2012 thì mới đây, chiều ngày 21/02/2013, thị..

Doi 100 Usd phat 90 trieu

Đổi 100 Usd phạt 90 triệu

Một người dân ở Cần Thơ đã bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt lên tới 90 triệu đồng chỉ vì đổi tờ 100 USD tại tiệm vàng.