Ngành ngân hàng hậu WTO

Thứ sáu, 26 Tháng năm 2006, 10:36 GMT+7
  • Nganh ngan hang hau WTO

    Những chi tiết của thoả thuận về việc VN gia nhập WTO vẫn chưa được công bố chính thức. Tuy nhiên, thông tin mỗi ngân hàng ngoại có thể nắm giữ 30% cổ phần trong các ngân hàng thương mại Việt Nam đã khiến lĩnh vực này nhanh chóng trở thành "miếng bánh ngọt" trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài.

    "Thời điểm Việt Nam"

    Đó là nhận định của nhiều chuyên gia tài chính quốc tế ngay sau khi đàm phán gia nhập WTO giữa Việt Nam và Mỹ kết thúc. Thông tin này cộng với việc các ngân hàng ngoại sẽ được thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam vào năm 2010 theo Hiệp định thương mại Việt-Mỹ đã khiến các nhà đầu tư quốc tế nhìn nhận lĩnh vực ngân hàng Việt Nam là miếng đất béo bở để đầu tư.

    Tác giả Karl D. John -tổ chức tư vấn tờ Asia Times cho rằng, viễn cảnh xán lạn đến nỗi ngay từ bây giờ đã có cuộc chạy đua "đầu cơ vào cồ phiếu các ngân hàng" để bán lại cho các ngân hàng lớn nước ngoài trong tương lai. Thậm chí, "các nhà đầu tư trong nước còn sẵn lòng trả gấp 3-4 lần mệnh giá của các cổ phần ngân hàng và rất nhiều người đã đi vay chính vốn của ngân hàng đó để mua cổ phần của ngân hàng này trên thị trường mở".

    Nhưng các ngân hàng ngoại không chờ đến bây giờ mới nhảy vào "chia phần bánh". Ngay từ năm 2005, Ngân hàng Hongkong Thượng Hải (HSBC) đã "thò một chân" vào Ngân hàng Kỹ thương Techcombank với 10% cổ phần được phép. Sau đó không lâu, ANZ (Australia), Công ty Tài chính Quốc tế (LFC), Công ty Tài chính Dragon Capital đã chia nhau 30% cổ phần Sacombank, Standard Chartered mua cổ phần ACB và mới đây nhất là OCBC (Singapore) với việc nắm giữ cổ phần Thương mại cổ phần ngoài quốc doanh Vpbank.

    Xu thế này vẫn đang tiếp diễn sôi động với việc Ngân hàng Phương Nam (Southem Bank) đang cân nhắc khả năng bán lại 10% cổ phần cho Cathay Bank (Mỹ), Ngân hàng Đông á (EAB) đang tìm kiếm đối tác chiến lược từ Mỹ hay CitiGroup đang tìm kiếm đến ngân hàng Quân đội(MB) và tiến tới đích ngắm là Vietcombank trong tương lai.

    Nhà đầu tư cất cánh.

    Điều gì đã khiến một thị trường ngân hàng còn nhiều hạn chế với nền kinh tế tiền mặt (ước tính 45% lượng tiền giao dịch), chỉ mới có khoáng 1,3 triệu tài khoản cá nhân và bị 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn chi phối tới 80% lại hấp dẫn đến vậy? Ông Bradle C. Lalonde, Giám đốc điều hành Công ty Tư vấn Tài chính Hoa Kỳ lý giải, khối ngân hàng thương mại cổ phần có tỉ lệ lợi tức thấp nhất từ 15-17%, thậm chí có ngân hàng đạt tới 40%. Đây là tỉ lệ cao chưa từng có và là hiệu quả kinh doanh có thực.

    Nhìn vào kết quả kinh doanh năm 2005 của khối ngân hàng ngoại sẽ rõ: tổng tài sản của khối này đã đạt gần 6,3 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2004, thu nhập trước thuế của khối chi nhánh các ngân hàng nước ngoài và liên doanh ước tính tăng khoảng 45%, lợi nhuận của các ngân hàng liên doanh tăng trung bình 15%, tổng khoản vay tại các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng 30%. Mặt khác, Vu trưởng Vụ Các ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước VN) Kiệu Hữu Dũng cho rằng, khi muốn tham gia một thị trường, các ngân hàng nước ngoài thường chọn cách góp vốn hoặc mua lại một ngân hàng địa phương đang hoạt động, hơn là tự đứng ra lập ngân hàng mới để khai thác được mạng lưới phân phối toàn quốc sẵn có của đối tác đồng thời nhanh chóng khuếch trương thương hiệu.

    Ngân hàng nội tự tin

    "Miếng bánh ngân hàng có thể bị chia sẻ nhưng bù lại nó sẽ "nở" lớn hơn nhiều khi có sự tham"gia của các nhà đầu tư nước ngoài", một quan chức ngân hàng Việt Nam đã nhìn nguy cơ bị "chia phần" theo chiều hướng lạc quan. Theo ông, xu thế tăng cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong hệ thống ngân hàng là không tránh khỏi và các DN Việt Nam đã tỏ ra chủ động trong cuộc chơi này.

    Hầu hết các NH nội đều nhận thức rõ nếu không sớm "bắt tay" với một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài để tranh thủ công nghệ, kinh nghiệm quản lý ngân hàng hiện đại thì sẽ không trụ nổi trên thị trường. Bà Nguyễn Thị Nga, Chú tịch HĐQT Techcombank khẳng định: ngân hàng trong nước thu hút đối tác nước ngoài chưa hẳn vì thiếu vốn mà sâu xa hơn vì cần sự góp mặt của những cổ đông có kinh nghiệm và công nghệ quản lý hiện đại.

    Chia sẻ quan điểm này, Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) Lý Xuân Hải cho rằng không bán cổ phần sẽ khó lòng thu hút công nghệ cao và kinh nghiệm từ các đối tác chiến lược nước ngoài. Tuy nhiên, cái lợi của "nhân tố nước ngoài" không chỉ là công nghệ hay kinh nghiệm ngân hàng mà đã hiện lộ nhãn tiền khi giá trị cổ phiếu các NH nội tăng vùn vụt sau khi bắt tay đối tác nước ngoài.

    Cổ phiếu của ACB, Sacombank hay mới nhất là VPbank đã tăng vọt gấp mấy lần giá gốc. Chính vì thế, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thuý cho rằng không có gì đáng lo ngại về việc các đối tác nước ngoài mua cổ phần Ngân hàng Việt Nam bởi điều này sẽ mang lại lợi ích cho cả 3 phía: các ngân hàng Việt Nam bán được giá cổ phiếu cao, thu hút được nhà đầu tư chiến lược mạnh; các đối tác nước ngoài sẽ có cơ hội tham gia sâu hơn vào thị trường tài chính Việt Nam và đón đầu các cơ hội kinh doanh trong tương lai, Ngân hàng Nhà nước cũng có lợi vì sẽ có được một thị trường lành mạnh hơn.


    Các ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam

    *4 ngân hàng quốc doanh nắm gần 80% thị trường
    *Trên 30 ngân hàng cổ phần cả đô thị lẫn nông thôn
    *4 ngân hàng liên doanh và gần 30 chi nhánh các ngân hàng nước ngoài
    *3 công ty cho thuê tài chính có vốn đầu tư nước ngoài

    (theo Quốc Tế)

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Ngành ngân hàng hậu WTO

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Ngành ngân hàng hậu WTO bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Nganh ngan hang hau WTO ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Ngành ngân hàng hậu WTO ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Chứng Khoán của chuyên mục Kinh Tế.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - KINH TẾ - CHỨNG KHOÁN