Giải pháp mở cửa thị trường xuất khẩu gạo

Chủ nhật, 19 Tháng hai 2006, 23:51 GMT+7
  • Giai phap mo cua thi truong xuat khau gao

    Năm 2005 khép lại, Việt Nam xuất khẩu gạo đạt ngưỡng 5 triệu tấn, giá trị trên 1,3 tỉ USD là một thắng lợi lớn đánh dấu sự trưởng thành của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam. Song, phía trước vẫn còn nhiều thách thức từ vùng nguyên liệu đến khâu chế biến gạo xuất khẩu…

    Thành công trong xuất khẩu gạo năm 2005 có phần đóng góp rất lớn của vựa lúa ĐBSCL: tiêu biểu là An Giang, tỉnh có sản lượng lúa gạo cao nhất cả nước: trên 3 triệu tấn/năm; nổi bật là Nông trường Sông Hậu đã đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu trên diện tích 5.000 ha, với các giống lúa chất lượng cao như: IR 64, VNĐ 5-20, OM 1490. Đồng thời, nông trường chuyển sang sản xuất lúa đặc sản Jasmine 85. Thương hiệu gạo SOHAFARM của nông trường đã được khách hàng nhiều nước trên thế giới tín nhiệm.

    Bà Trần Ngọc Sương, Giám đốc Nông trường Sông Hậu, cho biết, sự thành công của nông trường được xây dựng trên nền tảng vững chắc: thành viên nông trường sử dụng 100% giống lúa xác nhận để gieo sạ; áp dụng chặt các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM); sử dụng hệ thống sấy lúa để nâng cao khả năng bảo quản sau thu hoạch. Với 40 lò sấy lúa có công suất 8tấn/mẻ, nông trường đảm bảo sấy bảo quản toàn bộ sản lượng lúa hè thu của nông trường. Bằng các biện pháp xây dựng hệ thống đồng ruộng, sử dụng giống xác nhận, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật liên hoàn trong sản xuất sản xuất đã tạo ra một sản lượng lúa nguyên liệu lớn với chất lượng đồng đều; khi đưa qua chế biến, tỷ lệ thu hồi gạo đạt cao, nâng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp doanh nghiệp. Tuy nhiên, những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kiểu như Nông trường sông Hậu ở ĐBSCL chỉ đếm trên đầu ngón tay.

    Theo ông Huỳnh Thế Năng, những tồn tại, yếu kém trong xuất khẩu gạo của Việt Nam là ngay trong khâu sản xuất lúa gạo xuất khẩu đã có nhiều thách thức, nhất là nhu cầu sử dụng giống trong sản xuất.

    Ở nước ta vẫn tồn tại tập quán mua tại nhà, bán tại đồng, thói quen kinh doanh chưa có vùng nguyên liệu và chưa có thương hiệu của các doanh nghiệp kinh doanh lương thực. Việc thông tin, dự báo thị trường chưa được chú trọng, đặc biệt là với thị trường lúa thơm, lúa đặc sản và nếp. Gạo thơm, gạo đặc sản, nếp an toàn là loại hàng hoá chiến lược, có giá trị xuất khẩu cao, nhưng Nhà nước chưa chú trọng đầu tư cơ sở vật chất như kho chứa, bến bãi, chính sách thu mua…

    GS.TS Võ Tòng Xuân nhận định: Trong những thập kỷ tới, nguồn ngoại tệ thu vào từ xuất khẩu nông, thủy sản nước ta đóng vai trò quyết định cho phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ.

    Việc đẩy mạnh xuất khẩu nông, thủy sản sẽ mang lại nguồn lợi lớn cho đất nước. Tuy nhiên, nước ta đang đứng trước những thách thức là: tốc độ đô thị hoá tại khu vực và thế giới ngày càng tăng, thu nhập của người dân các nước ngày càng tăng dẫn đến khẩu phần gạo trong bữa ăn giảm (dẫn đến xuất khẩu lương thực không tăng mạnh như hiện nay), đồng thời tăng thức ăn chế biến sẵn, đặc biệt chú ý đến an toàn vệ sinh thực phẩm.

    Trên thị trường, lương thực, thực phẩm chuyển vào các siêu thị tăng lên. Việc bày bán lương thực, thực phẩm tại các chợ nhỏ lẻ cũng thu hẹp. Hệ thống sản xuất lương thực không còn nhỏ lẻ. Điều này trái với những tập quán sản xuất và hệ thống phân phối ở nước ta hiện nay. Cụ thể nông dân vẫn còn sản xuất manh mún. Phần lớn các doanh nghiệp ở nước ta thích mua hàng trôi nổi, tìm ai bán rẻ nhất thì mua. Nông dân thích bán hàng cho thương lái hơn là bán cho doanh nghiệp. Giữa nông dân và doanh nghiệp còn ít gắn bó, thậm chí “mất lòng tin” với nhau.

    Ngoài ra, thị trường hiện nay cần hàng hoá chất lượng cao và đồng nhất, khối lượng lớn, giao hàng cùng một thời điểm với giá cạnh tranh nhất. Đây cũng là điểm yếu của chúng ta.

    Vì vậy, cần thay đổi hệ thống sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá thâm canh với quy mô ngày càng lớn hơn. Chính sách cần có là tạo mọi điều kiện môi trường thuận lợi hơn cho nông dân, giúp nông dân tham gia vào hệ thống sản xuất lớn có thể trụ vững lâu dài. Muốn thế, cái tối cần thiết hiện nay là hiện đại hoá nông nghiệp trong khuôn khổ phát triển nông thôn để nông dân đủ điều kiện sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

    Với 5 triệu tấn gạo xuất khẩu, nếu lúa đầu vào được làm khô và tồn trữ đúng cách, giá trị của gạo xuất khẩu có thể tăng thêm 30USD/tấn. Tính ra, tổng mức tăng có thể lên tới 200 triệu USD. Số tiền này đủ cho ĐBSCL trang bị thêm 3.000 hệ thống sấy lúa công nghiệp, công suất 300.000 tấn/ngày, đủ năng lực làm khô lúa cho cả ĐBSCL trong các vụ lúa trong năm. Do thiếu hệ thống sấy nên tính cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới còn thua gạo Thái Lan. ĐBSCL cần hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, gắn với sự xung phong của doanh nghiệp, tiến tới xây dựng thương hiệu để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập.


    (Theo VOV)

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin Giải pháp mở cửa thị trường xuất khẩu gạo

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Giải pháp mở cửa thị trường xuất khẩu gạo bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Giai phap mo cua thi truong xuat khau gao ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Giải pháp mở cửa thị trường xuất khẩu gạo ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Kinh Tế của chuyên mục Kinh Tế.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - KINH TẾ - TIN KINH TẾ