Các vòng đàm phán của GATT

17:47 04/02/2007

+ Xin cho biết các vòng đàm phán của GAtổ chức tiền thân của WTO. Các thỏa thuận đạt được. Xin cảm ơn! ( gala@...com )

Từ khi GATT ra đời năm 1947-1948 đã diễn ra 8 vòng đàm phán thương mại. Thời kỳ đầu, các vòng đàm phán xoay quanh vấn đề cắt giảm thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, đến thập niên 80, phạm vi đàm phán đã được mở rộng, bao trùm cả những vấn đề liên quan tới hàng rào bảo hộ phi thuế quan cản trở thương mại hàng hoá, rồi cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Nhờ vậy, vào khoảng giữa thập niên 90, tại các nước công nghiệp phát triển, thuế đánh vào hàng công nghiệp đã được giảm xuống dưới mức 4%.

Nhìn chung, những thỏa thuận thương mại trong các vòng đàm phán đó ràng buộc các nước ký kết phải tiến hành giảm thuế xuất, nhập khẩu cũng như giảm bớt các hàng rào thương mại phi thuế khác đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu. Mức độ giảm thuế khác nhau tùy theo từng nước cũng như từng loại hàng hóa.

8 vòng đàm phán của GATT là:

- Vòng Geneva (1947): bao gồm 23 nước tham gia. Các nước tham gia này đã quyết định tiến hành đàm phán để giảm và thực hiện ràng buộc thuế quan. Toàn bộ các qui định thương mại và nhượng bộ thuế quan đó đã tạo thành Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), có hiệu lực từ tháng 1 năm 1948. 23 quốc gia tham dự đàm phán đó trở thành những thành viên sáng lập ra GATT (với tên gọi chính thức là “các bên ký kết”).

- Vòng Annecy (1949): bao gồm 13 nước tham gia.

- Vòng Torquay (1951): bao gồm 38 nước tham gia.

2 vòng đàm phán trên cũng tiếp tục với các vấn đề về thuế quan khác.

- Vòng Geneva (1956): bao gồm 26 nước tham gia. Tại vòng này đã đạt được những kết quả liên quan đến việc giảm thuế, đề ra chiến lược cho chính sách của GATT đối với các nước đang phát triển, nâng cao vị thế của họ với tư cách là những thành viên tham gia GATT.

- Vòng Dillon (1960-1961): bao gồm 26 nước tham gia. Vòng này chủ yếu bàn về việc giảm thuế. Tên gọi được đặt theo tên Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ C. Douglas Dillon.

- Vòng Kenedy (1964-1967): bao gồm 63 nước. Nội dung thảo luận cũng vẫn là việc giảm thuế, nhưng lần đầu tiên đàm phán giảm thuế theo một phương pháp áp dụng chung cho tất cả các loại hàng hóa chứ không đàm phán giảm thuế cho từng loại hàng hóa một như các vòng trước. Hiệp định chống bán phá giá được ký kết (nhưng tại Hoa Kỳ không được Quốc hội nước này phê chuẩn).

- Vòng Tokyo (1973-1979): Bao gồm 102 nước. Vòng đàm phán này tiếp tục những nỗ lực mà GATT theo đuổi nhằm từng bước giảm bớt hàng rào thuế quan. Nhờ vậy, mức thuế quan đã được giảm đi khoảng 1/3 tại 9 thị trường công nghiệp chính của thế giới, đưa mức thuế bình quân áp dụng đối với hàng công nghiệp giảm xuống còn 4,7%.

Việc cắt giảm thuế quan, chia thành nhiều giai đoạn trong vòng 8 năm cũng đã tạo ra được một sự hài hòa nhất định, vì những loại thuế cao nhất đã được cắt giảm mạnh nhất.

- Vòng Uruguay (1986-1994): bao gồm 125 nước tham gia. Đây là vòng đàm phán cuối cùng và cũng là vòng đàm phán tham vọng nhất trong số tất cả các vòng đàm phán của GATT. Vòng đàm phán này đã dẫn đến việc thành lập WTO và thông qua một loạt các hiệp định mới.

Những nét chính của vòng này là: thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT; giảm thuế và các biện pháp trợ cấp xuất khẩu; giảm hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác trong vòng 20 năm; ký kết Hiệp định về Bảo hộ Quyền sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS); mở rộng phạm vi áp dụng của luật thương mại quốc tế sang lĩnh vực dịch vụ thông qua Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS); dỡ bỏ hạn chế đối với đầu tư nước ngoài.

>> Mời bạn đọc BẤM VÀO ĐÂY để đọc thêm các thông tin thường thức về tổ chức thương mại thế giới, BẤM VÀO ĐÂY để theo dõi quá trình VN gia nhập WTO.

Từ wto.org, sách Tìm hiểu về tổ chức thương mại thế giới của UBHTKTQT

TS

Việt Báo
contentlength: 6735
Chia sẻ

Video nổi bật

Hành khách vạ vật do sự cố máy bay Vietnam Airlines
00:00 / --:--

TIN Kinh Tế NỔI BẬT

Ngân hàng Việt Nam sẽ ra sao nếu stress test?

Nhóm nghiên cứu VEPR đã kiểm tra sức chịu đựng với 13 ngân hàng thương mại Việt Nam, chiếm 68,5% tổng tài sản của hệ thống, kết quả không mấy khả quan.