“Buôn với ai” để có thể hưởng lợi nhiều nhất từ FDI

Thứ sáu, 09 Tháng mười hai 2005, 12:15 GMT+7
  • Buon voi ai de co the huong loi nhieu nhat tu FDI
    Chính sách thương mại của nước chủ nhà (nước đón nhận dòng chảy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI) luôn có một tác động to lớn lên dòng chảy này. Một mức độ bảo hộ cao, ví như hàng rào thuế quan, được thực thi đối với một ngành nào đó sẽ dễ dàng gây ra sự dịch chuyển của vốn FDI vào trong ngành này.

    Hoặc như, đối với các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu, nếu phải chịu một một mức thuế suất cao nhằm khuyến khích sản xuất nội địa, có thể làm giảm đi động lực đầu tư, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư hoạt động trong khu vực xuất khẩu (trường hợp đầu vào sản xuất được thay thế bằng sản phẩm nội địa chất lượng thấp, giá thành đắt).

    Hơn thế nữa, với sự tham dự của nước chủ nhà trong các hiệp ước về tự do hóa mậu dịch sẽ tạo ra những kết quả tích cực trong việc thu hút FDI nhờ vào việc đầu tư vào nước này sẽ cho phép thâm nhập thị trường các nước thành viên còn lại. Và cũng cần nói thêm rằng, việc tham dự này sẽ góp phần làm phong phú thêm kết cấu FDI tại nước chủ nhà, một khi nước này đạt được những thỏa thuận về tự do hóa thương mại với các nước khác không phải là thành viên của khối.

    Như vậy, chính sách thương mại, nếu được sử dụng tốt, sẽ là một trong những công cụ hiệu quả để kích thích dòng chảy FDI. Tuy nhiên, câu hỏi: “Buôn với ai để có thể hưởng lợi nhiều nhất từ dòng chảy này?” lại là vấn đề cần suy ngẫm.

    Thật khó có thể kết luận rằng, FDI sẽ tăng lên đáng kể một khi mà nước chủ nhà, nước đang phát triển, tham dự vào một hiệp ước thương mại vùng nào đó bao gồm các thành viên có trình độ phát triển tương đối đồng đều. Đối với các tập đoàn đa quốc gia, chiến lược đầu tư triển khai trong các nước đang phát triển chủ yếu là hướng về việc tối thiểu hóa chi phí, hoặc tiếp cận một số nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào tại các nước này.

    Các mục tiêu quan trọng khác như, chiếm lĩnh thị trường, điều tiết cạnh tranh hoặc hình thành tư bản liên minh nhằm đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) nhìn chung là rất mờ nhạt (trừ trường hợp FDI tại Trung Quốc, hoặc FDI trong một số nước áp dụng chính sách bảo hộ cho phép vốn đầu tư hướng về thị trường nội địa nhận được một sự trả công cao). Và do vậy, để kết luận FDI sẽ tăng mạnh khi hiệp ước thương mại vùng hình thành sẽ cần dựa vào việc so sánh chi phí sản xuất trong các ngành thu hút FDI tại các nước này.

    Với một trình độ phát triển tương đối đồng đều và không có gì được gọi là vượt trội lên hẳn về lợi thế so sánh, sẽ không thể tồn tại một khoảng cách quá lớn về chi phí sản xuất giữa các nước thành viên trong khối. Nếu một nhà đầu tư có ý định chinh phục thị trường của một nước, anh ta sẽ “vào” trực tiếp nước này thay vì thực hiện FDI vào một nước khác trong khối sau đó lại xuất khẩu sản phẩm để phải đối mặt với hàng loạt khó khăn phát sinh.

    Ví dụ, điều tiết sản xuất, cùng các chi phí như vận chuyển, điều tra thị trường..., chưa kể các hàng rào phi thuế quan mà chắc chắn sẽ tồn tại trong nước nhập khẩu. Trong trường hợp mà FDI hướng về xuất khẩu, tác động của hiệp ước có thể diễn ra theo hướng tích cực thông qua việc giảm chi phí đầu vào nhập khẩu có xuất xứ từ các nước thành viên trong khối.

    Tuy nhiên, có lẽ cũng khó mà nhìn thấy những diễn tiến thật sự rõ ràng của tác động tích cực này trong một ý nghĩa là cho phép (hoặc thúc đẩy mạnh) FDI triển khai kinh tế quy mô để xuất khẩu, vì một trong những điều kiện tiên quyết của việc này là một phần quan trọng của đầu ra phải được tiêu thụ tại chỗ. Nhưng quy mô của thị trường nội địa lại luôn là điểm yếu nhất của hầu hết các nước đang phát triển trong việc thu hút FDI.

    Vấn đề thứ hai mà chúng ta sẽ đề cập đến: liệu dòng chảy FDI có nguồn gốc từ các nước thành viên trong khối, diễn ra giữa các thành viên này, có tăng hay không? Như chúng ta đã trình bày ở trên, FDI vào trong các nước này chủ yếu là theo đuổi chiến lược tối thiểu hóa chi phí, với chi phí sản xuất tương đối đồng đều nhau giữa các nước thành viên, động lực thực hiện FDI giữa các nước này sẽ là rất yếu.

    Thêm vào đó, đây là các nước đang phát triển, dòng ra của đầu tư trực tiếp là không đáng kể (với hầu hết các nước này thì dòng ra là hầu như bằng không). Do vậy, cho dù có được thúc đẩy bởi việc hình thành của hiệp ước, việc tăng lên của FDI giữa các nước này cũng khó có thể mang lại một dấu hiệu tích cực đáng ghi nhận nào.

    Đối với trường hợp cuối cùng mà chúng ta sẽ xét đến là việc một thỏa thuận về tự do hóa thương mại đạt được giữa một nước đang phát triển và một nước phát triển.

    Giữa hai nước này tồn tại một khoảng cách lớn về trình độ phát triển, đặc biệt là trình độ công nghệ, do vậy mà dòng chảy FDI sẽ chỉ diễn ra một chiều trong nước đang phát triển. Chính sách bảo hộ không tồn tại nữa, điều này sẽ kích thích mạnh FDI hướng về xuất khẩu.

    Đối với FDI dạng này, nước chủ nhà được hưởng lợi trên rất nhiều phương diện như, tiếp cận thị trường mới, kích thích sự phát triển của hệ thống phụ trợ công nghiệp và của cả các ngành dịch vụ, cho phép phát huy cao độ các lợi thế so sánh mạnh nhất của đất nước.


    Ví dụ, sự dồi dào của nguồn nhân lực với chi phí cạnh tranh hoặc khai thác được các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và đặc biệt là đẩy mạnh chuyển giao công nghệ nhờ vào việc mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ của các dự án hướng về xuất khẩu, đây là mục tiêu vô cùng quan trọng cần phải đạt được đối với các nước đang phát triển trong việc thu hút FDI.

    Ngoài ra, việc hình thành của hiệp ước sẽ “biến” nước đang phát triển thành một địa điểm đầu tư “trung gian” của FDI từ một nước thứ ba, một khi nước thứ ba này có thỏa thuận song phương về tự do thương mại với nước đang phát triển, nhưng lại chưa có thỏa thuận với nước phát triển tham gia trong hiệp ước.

    Ví dụ, tồn tại một thỏa thuận về tự do hóa mậu dịch giữa hai nước A (đang phát triển) và B (phát triển). Giữa nước A và nước C cũng có một thỏa thuận dạng này, nhưng lại không có giữa hai nước B và C. Lúc này, để thâm nhập thị trường của B, FDI từ C có thể được triển khai trong A, sau đó xuất khẩu sản phẩm vào B. Điều này sẽ càng khả thi nếu giữa C và A có một khoảng cách lớn về trình độ phát triển.

    Tóm lại, không phủ nhận rằng, sự hình thành của hiệp ước về tự do hóa thương mại sẽ làm tăng quy mô thị trường và tạo nên sự hấp dẫn với FDI trong các nước đang phát triển. Tuy nhiên, điều này sẽ chỉ thật sự gây hiệu ứng tích cực trong trường hợp tồn tại một sự khác biệt lớn về lợi thế so sánh giữa các nước thành viên.

    Trong trường hợp mà các nước này sở hữu các lợi thế so sánh tương đối tương đồng, tác động tích cực là hạn chế, và trong một số trường hợp có thể gây hiệu ứng ngược nếu trong số các thành viên này có một số, ngoài việc sở hữu các lợi thế so sánh như các thành viên khác, còn sở hữu thêm lợi thế so sánh vượt trội nào đó. Nhận xét này sẽ càng đúng khi áp dụng vào xem xét việc thu hút FDI theo ngành. Ví dụ sau đây sẽ minh họa.

    Trung Quốc, một nước đang phát triển, hơn một thập kỷ vừa qua nổi lên như một trong những điểm đến yêu thích nhất của FDI. Có nhiều lý do để giải thích cho việc này, nhưng sự dồi dào của nguồn nhân lực với chi phí cạnh tranh, và đặc biệt là dung lượng khổng lồ của thị trường nội địa tại nước này - một thị trường bao gồm hơn 1,3 tỷ dân với mức tăng trưởng cao luôn là hai lý do chính.

    Và do vậy, những thỏa thuận về tự do hóa mậu dịch giữa các nước đang phát triển với Trung Quốc, đặc biệt là những nước ở đó FDI bị thu hút chủ yếu bởi chi phí rẻ của nguồn nhân công, cần trở thành một vấn đề đáng suy ngẫm đối với các nước này trong việc nâng cao nguồn vốn FDI. Cùng một lợi thế so sánh là chi phí rẻ của nguồn nhân lực, nhưng quy mô thị trường nội địa lại là điều kiện thuận lợi cho phép triển khai mạnh mẽ kinh tế quy mô, hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc đã trở nên cực kỳ cạnh tranh bằng giá bán.

    Mở cửa rộng rãi thị trường nội địa cho các hàng hóa này, chắc chắn niềm hy vọng của các nước chủ nhà (nước đang phát triển) đối với việc nâng cao vốn FDI vào các công đoạn thượng nguồn của các ngành xuất khẩu, nơi mà ở đó thường xuyên đòi hỏi vốn đầu tư lớn, sẽ trở nên kém hiện thực đi rất nhiều.

    Ngoài ra, lợi ích mang lại từ việc tăng cao dòng chảy FDI “Made in China” nhờ vào thỏa thuận tự do hóa thương mại cũng sẽ là rất “khiêm tốn”, vì điều mà các nước đang phát triển rất cần thu được qua việc thu hút FDI là công nghệ. Nhưng điều này thì Trung Quốc hẳn là đang còn rất xa mới được xem là cường quốc.

    Chinh phục thị trường Trung Quốc là dành cho các công ty phưong Tây thông qua việc sử dụng các công nghệ hiện đại và trình độ tổ chức ưu tú của họ. “Bánh Gatô Trung Hoa”, tại thời điểm hiện nay, thật khó mà có phần đáng kể cho các nước đang phát triển, đặc biệt là cho các nước đang phát triển nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi mà ở đó có thể tìm thấy rất nhiều nét tương đồng về kinh tế, văn hóa, xã hội... khi so với Trung Quốc.

    Ngày hôm nay, tự do hóa dòng chảy thương mại quốc tế là điều tất yếu. Không còn nữa cái quyền được lựa chọn “buôn với ai”. Tuy nhiên, xác định chính xác mức độ của mối quan hệ cũng như các phương pháp cần phải có để đạt được mức độ này lại là điều quan trọng. Vấn đề là lợi ích quốc gia - lợi ích kinh tế - luôn phải được đặt lên hàng đầu trong tất cả các quyết định trong một thế giới của toàn cầu hóa.

    Theo Đầu tư

    Việt Báo
    Ý kiến bạn đọc

    Viết phản hồi

    Nhận xét tin “Buôn với ai” để có thể hưởng lợi nhiều nhất từ FDI

    Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết “Buôn với ai” để có thể hưởng lợi nhiều nhất từ FDI bằng cách gửi thư điện tử tới vietbao.vn. Xin bao gồm tên bài viết Buon voi ai de co the huong loi nhieu nhat tu FDI ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc “Buôn với ai” để có thể hưởng lợi nhiều nhất từ FDI ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Kinh Tế của chuyên mục Kinh Tế.

    Bài viết mới:

    Các bài viết khác:

       TIẾP THEO >>
    VIỆT BÁO - KINH TẾ - TIN KINH TẾ