Bản trường ca của dân nuôi tôm Mỹ

14:20 04/04/2007
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Trong những ngày huy hoàng trong 3 thập kỷ nay, John Williams kiếm sống ngon lành từ những mùa tôm nuôi trên Vịnh Mexico. Còn những ngày này, Williams đang chuẩn bị thu hoạch một mẻ khác trước: kiếm tiền từ các đối thủ bán tôm với giá rẻ.

Williams, Giám đốc điều hành của Liên minh tôm miền Nam, đã đồng sáng lập nên tổ chức này vào năm 2002 với mục đích giúp các nhà nuôi tôm ở Mỹ chống lại sự cạnh tranh bằng giá thấp của các loại tôm nuôi ao hồ từ châu Á và Mỹ Latin.

Liên minh này đã thu thập ý chí của dân trong ngành để vận động chính phủ Mỹ áp thuế nhập khẩu với tôm của 6 nước vào cuối năm 2003, với lập luận rằng, các đối thủ này đã bán phá giá trên thị trường Mỹ với mức giá thấp, bất công.

Nhưng sau khi thắng được vụ đó (chính phủ Mỹ quyết định nâng thuế nhập khẩu tôm của 6 nước trên, đồng thời phạt các nước này 100 triệu USD cho các nhà nuôi tôm ở Mỹ), thì Williams và các cộng sự trong liên minh còn muốn đòi hỏi nhiều hơn thế.

Với sự trợ thủ của các hãng luật lão luyện trong chuyện kiện tụng đóng tại New York, các nhà nuôi tôm ở Mỹ đã đệ đơn kiện đặc biệt lên Chính phủ Mỹ, đe doạ sẽ nâng thuế nhập khẩu tôm lên cao hơn nữa. Động thái này đã khiến hơn 100 nhà cung cấp tôm của các nước phải cắn răng chi ra hàng triệu USD cho các nhà nuôi tôm ở Mỹ để được họ thôi không đòi hỏi như thế nữa.

Liên minh trên có nói rằng, họ dùng số tiền đó để giúp khôi phục lại ngành nuôi tôm Mỹ trước sự đe doạ sống còn từ mặt hàng cùng loại giá rẻ từ các nước xuất khẩu. Khoản tiền trên cũng đủ để chi trả tiền phí để các luật sư mở rộng hoạt động khiếu kiện của mình và vận động chính phủ hỗ trợ thêm ngành nuôi tôm, và còn một số yêu sách ưu tiên khác.

"Giờ đây chúng ta đã có được tiếng nói mà chúng ta chưa hề có trước đây", Williams tuyên bố.

Khơi dậy một cuộc chiến

Hành động như trên đã khơi dậy một cuộc chiến do sự bất bình trước chiến thắng kiểu này của Liên minh, cũng như làm dấy lên sự quan ngại rằng các nhà nuôi tôm ở Mỹ đã khai thác một cách bất công những điều luật được tạo ra để bảo hộ cho doanh nghiệp trong nước, tạo ra những hành động thương mại không bình đẳng.

"Chúng tôi biết là bất công, nhưng vẫn phải chịu nếu muốn tiếp tục cuộc chơi", lời của Vương Quang Khánh, Trưởng phòng kinh doanh quốc tế của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Cần Thơ, một doanh nghiệp xuất khẩu tôm đã phải trả tới 68.000 USD cho các nhà nuôi tôm ở Mỹ.

Dan Ikenson từ Viện nghiên cứu thị trường tự do Cato nói: "Có điều gì đó giống như là các nhà nuôi tôm ở Mỹ đang bóp nặn những khoản tiền lớn từ nhà cung cấp tôm của các nước".

Gần 10 năm nay, luật của Mỹ đã bảo hộ các doanh nghiệp trong nước trước các loại hàng hoá nhập khẩu giá thấp từ các nước. Luật hiện hành cho phép các doanh nghiệp trong nước tìm kiếm các phương thức để ngăn chặn các đối thủ nước ngoài có lợi thế cạnh tranh về giá khi chứng minh được rằng họ xuất hàng sang Mỹ với giá bán thấp hơn giá thành. Mục tiêu là để các doanh nghiệp trong nước bảo vệ thị phần.

Gây tranh cãi hơn cả là Tu chính án Byrd, điều luật từ năm 2000 tạo điều kiện để chính phủ áp thuế chống bán phá giá khi các công ty Mỹ khiếu nại về hàng giá rẻ nhập khẩu.

Luật này theo kế hoạch đã bị huỷ bỏ từ tháng 10/2006, bởi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho rằng điều luật này đã tạo ra việc đánh thuế 2 lần, với việc áp thuế và bồi thường tiền cho đối thủ trong nước.

Những người chỉ trích e ngại rằng các chiến thuật kiểu đó của Liên minh sẽ vẫn tiếp tục thắng trong các vụ đòi tiền 2 lần cho dù Tu chính án Byrd có bị bãi bỏ. Nói cách khác, cách làm của Liên minh rõ ràng là phương án gối đầu giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp tục hưởng lợi bất công một khi Tu chính án Byrd có bị bãi bỏ.

Williams, năm nay 56 tuổi, lớn lên từ cộng đồng nuôi trồng thuỷ sản ở Bắc Carolina và chuyển tới Florida làm việc trên một thuyền cá trước khi tự mua được cho mình một thuyền riêng vào thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Ngành công nghiệp thủy sản trong nước lúc đó rất mạnh mẽ, với hơn 5.000 ngư dân Mỹ tung hoành trên những làn nước ấm áp của Vịnh Mexico và Đại Tây Dương, kéo dài từ Carolina xuống tận Florida.

Trên những dòng nước ấm ở Tarpon, những đoàn thuyền nối dài lững lờ trên mặt nước, ôm chặt lấy sông Anclote, cửa đổ ra Vịnh Mexico.

"Lúc đó cạnh tranh cũng rất dữ dội, nhưng tất cả đều làm ra tiền trên cùng một mặt nước", Williams hồi tưởng.

Rồi thay đổi ập đến. Nông dân ở châu Á và Mỹ Latin, với lợi thế của khí hậu ấm áp và nhân công giá rẻ, bắt đầu biết nuôi tôm trong những ao hồ cải tạo từ những đồng lúa ven biển. Không như các nhà nuôi tôm ở Mỹ, những người bỏ ra cả nhiều tuần cho mỗi lần đi ra biển, dân ở châu Á và Mỹ Latin nuôi tôm ngay cạnh nhà với những điều kiện chăm sóc hết sức chu đáo.

Chu kỳ 4 tháng một vụ cho phép họ thu hoạch 3 lần mỗi năm. Vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước, công nghệ lọc nước và các công nghệ tối tân khác được áp dụng tại khu vực này, cho phép họ xuất hàng sang Mỹ với giá rẻ hơn rất nhiều so với giá thị trường tại đây.

Số lượng tôm nhập khẩu vào Mỹ tăng vọt trong giai đoạn 2000 - 2004, và giá hạ xuống tới 39%, theo như số liệu từ Chính phủ Mỹ và từ Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ. Ngày nay, các nhà cung cấp tôm của các nước cung cấp tới 90% lượng tôm tiêu thụ tại Mỹ mỗi năm.

Trên những dòng nước ấm ở Tarpon, những đoàn thuyền nối dài lững lờ trên mặt nước, ôm chặt lấy sông Anclote, cửa đổ ra Vịnh Mexico.

Trên những dòng nước ấm ở Tarpon, những đoàn thuyền nối dài lững lờ trên mặt nước, ôm chặt lấy sông Anclote. (Ảnh ST)

Bóp nặn tiền bạc

Khi giá tôm xuống, Williams cảm thấy tiền bạc của mình như bị xén bớt, nợ nần bắt đầu trở thành vấn đề và mỗi con thuyền của anh tự nhiên thành nỗi ám ảnh khôn nguôi về những khoản nợ sắp tới. Anh phải huỷ hợp đồng bảo hiểm y tế của mình và bán chiếc xe Chevy Suburban của vợ cho đại lý.

Cùng quẫn, anh bắt đầu tìm đường chiến đấu để giành lại cơ nghiệp.

Vào giữa năm 2002, trong một khách sạn ngoại vi New Orleans, Williams và các bạn bè nuôi tôm thảo ra chương đầu tiên của chiến lược phối hợp hoạt động giữa những chủ thuyền và nhà chế biến ở 8 bang dọc bờ biển phía Nam nước Mỹ.

Tổ chức này thống nhất đệ đơn đòi Bộ Thương mại Mỹ và từ Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ tiến hành điều tra về việc bán phá giá của các đối thủ. Nếu thành công, vụ việc sẽ dẫn tới việc áp thuế lên tôm nhập khẩu. Và theo Tu chính án Byrd thì số tiền thu từ thuế sẽ tới tay những chủ thuyền và nhà chế biến Mỹ.

Tổ chức này, sau này tổ chức lại thành Liên minh tôm miền Nam, đã chọn hãng luật ở New York là Dewey Ballantine LLP để khai thác các khía cạnh khả dĩ dùng để kiện tụng. Ngày 31/12/2003, hãng luật này đã đệ đơn kiện có chữ ký của người trong ngành dày 148.800 trang lên Bộ Thương mại Mỹ và từ Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ.

Đơn kiện này chĩa mũi tấn công về những nhà cung cấp tôm của các nước Brazil, Trung Quốc, Ecuador, Ấn Độ, Thái Lan và VIệt Nam.

Tới tháng 2/2005, Bộ Thương mại Mỹ áp thuế nhập khẩu từ 3,5% hiện hành lúc đó lên tới hơn 100% giá trị tôm nhập khẩu từ các nước kể trên.

Đối với Williams và các nhà nuôi tôm ở Mỹ, quyết định trên có nghĩa là lợi thế cạnh tranh về giá của các đối thủ nước ngoài đã bị chặt bỏ. Quyết định trên cũng mở đường cho những dòng tiền sẽ chảy theo kênh Tu chính án Byrd về tay các doanh nghiệp trong nước.

Trên thực tế, sau đó, vào năm 2006, chủ thuyền và nhà chế biến tôm của Mỹ đã thu về được khoảng 100 triệu USD theo kênh Tu chính án Byrd. Nhưng lật lại hồi năm 2005, lãnh đạo Liên minh vẫn còn lo giá tôm quá thấp và nhập khẩu tăng mạnh. Hơn nữa, Quốc hội Mỹ cuối năm 2005 đã đi những bước đầu tiên trong việc dỡ bỏ Tu chính án Byrd và cắt nguồn tiền chi bồi thường cho các nhà nuôi tôm ở Mỹ. Nói thế để thấy họ đã hưởng khoản tiền mà đáng ra họ đã chấp nhận không đạt được.

Lúc đó, Williams và các nhà nuôi trồng tôm ở Mỹ quyết định tăng nhiệt lên các đối thủ nước ngoài. Mục đích là thuyết phục Bộ Thương mại Mỹ tăng thuế và đạt thêm những yêu sách bên ngoài phạm vi thương mại.

Theo luật Mỹ, bất cứ bên nào trong trường hợp liên quan tới bán phá giá có thể tìm kiếm sự xem xét lại của Bộ Thương mại về mức thuế. Những yêu sách đó cũng có thể được rút lại trong vòng 90 ngày. Với các nhà nuôi trồng tôm ở Mỹ, quyền rút lại yêu sách chính là một con bài dùng để mặc cả với các đối thủ nước ngoài trong đàm phán. Nếu các đối thủ chịu thiệt thòi, các nhà nuôi tôm ở Mỹ sẽ hứa rút lại yêu sách.

Hồi tháng 2/2006, một năm sau ngày bắt đầu áp thuế nhập khẩu tôm theo dạng chống bán phá giá, các luật sư của Liên minh lại nộp một yêu sách trong đó nêu yêu sách của khoảng 800 những chủ thuyền và nhà chế biến ở Mỹ. Đối tượng vẫn là các nhà cung cấp tôm nước ngoài.

"Tôi chưa từng thấy trường hợp nào thế này, với một mức độ đến như vậy. Chắc chắn là thế", lời của Ken Pierce, một đối tác luật sư ở hãng luật Vinson & Elkins LLP, bên đại diện cho các nhà cung cấp tôm Thái Lan và Việt Nam.

Yêu sách đó, cộng với một yêu sách nữa mà về sau đã bị Bộ Thương mại Mỹ bác bỏ, đã khiến các nhà cung cấp tôm nước ngoài thấy rõ những gì đang hiện ra trước mắt mình, và họ đã chọn giải pháp tìm cách dàn xếp, thoả hiệp với liên minh thay vì đối đầu về pháp lý.

Trong số những người đầu tiên chấp nhận thoả hiệp là Charoen Pokphand Foods PCL, một doanh nghiệp nông nghiệp của Thái Lan mà trong năm 2004 đã xuất sang Mỹ lượng tôm trị giá 900 triệu USD. Ông Pierce, luật sư của CP Foods, lo ngại rằng con bài quyết định của cuộc chơi không nằm trong tay khách hàng của ông.

Bradford Ward từ hãng luật Dewey Ballantine cho rằng, Liên minh không chỉ quan tâm tới mỗi tiền. Họ muốn các nhà sản xuất nước ngoài ngưng dùng các loại kháng sinh đang bị cấm ở Mỹ trong khi nuôi tôm. Họ cũng muốn cấm việc tạm nhập tái xuất tôm sang nước thứ 3. Họ muốn không được đề sai các loại nhãn mác khi xuất khẩu tôm vì như thế có thể tránh bị đánh thuế khi sang Mỹ.

Ông Ward cho rằng các luật sư của các nhà sản xuất nước ngoài hướng tới việc đền bù bằng tiền trước. "Họ tiếp cận chúng tôi và nhất thiết phải hỏi một câu "Thế vụ này hết bao nhiêu", ông nói.

Hồi tháng 5/2006, CP Foods đã đồng ý trả tiền mặt để dàn xếp ổn thoả với Liên minh, đổi lại Liên minh rút tên họ ra khỏi danh sách mà Liên minh muốn Bộ thương mại xem xét áp thuế chống bán phá giá. CP Foods cũng đồng ý tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và các yêu sách về thủ tục xuất nhập khẩu.

CP Foods không phải là công ty đầu tiên phải lo dàn xếp cho ổn thoả, song việc một đại gia như họ phải thoả hiệp là tấm gương mà các tay chơi nhỏ lẻ khác không thể không làm theo.

Lợi nhuận biên của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Cần Thơ, còn gọi là CASEAMEX, đã sút giảm mạnh mẽ sau khi hàng xuất khẩu sang Mỹ của họ bị áp thuế 4,57% trong năm 2005. Không những thế, để khỏi bị đánh thuế thêm lần nữa, họ đã đồng ý trả cho Liên minh khoản tiền tương đương 1,5% tổng doanh thu xuất sang Mỹ của họ trong năm 2006. Khoản tiền chi trả này dự kiến sẽ tăng lên 3% trong vòng 3 năm tới.

Các nhà xuất khẩu tôm nước ngoài khẳng định họ không làm gì sai đến nỗi bị mất tiền như thế, song họ cũng nói cần phải dàn xếp như thế để giảm thiểu các rủi ro, bất ổn khi làm ăn trên thị trường tôm Mỹ. "Luôn rất nguy hiểm và rủi ro khi bạn làm việc ở một nơi mà bạn không rõ về giá bán và mức thuế sẽ như thế nào", Nguyễn Hoàng Phương, Giám đốc Công ty chế biến thủy sản Út Xi phát biểu.

Công ty của Phương đã trả cho Liên minh tiền vì không biết định giá bán thế nào cho giống với tôm Mỹ các loại.

Cuối cùng, nhóm của Williams đã đạt được những thoả thuận khác nhau nhưng đều giống nhau là thu được tiền từ 104 nhà xuất khẩu tôm nước ngoài. Không giống như Tu chính án Byrd, luật mà khoản tiền bồi thường chia khác nhau với các thành viên khác nhau, những vụ dàn xếp như thế này được đưa thẳng tới cho Liên minh. Liên minh cũng như các nhà xuất khẩu tôm nước ngoài sau đó từ chối đưa ra con số chính xác.

Stephen Claeys, Trợ lý Thứ trưởng Bộ Thương mại Mỹ phụ trách vấn đề chống bán phá giá, không tham gia vào các vụ dàn xếp như trên. Ông nói: "Những việc đó hoàn toàn là thoả thuận riêng biệt giữa các bên với nhau".

Quan điểm như vậy đã khiến những người ủng hộ tự do thương mại phải ngưng lại nhiệt huyết của mình. Wally Stevens, lãnh đạo Hiệp hội các nhà phân phối thủy sản Mỹ, tổ chức đại diện cho các nhà nhập khẩu thuỷ sản Mỹ, cho rằng, việc trả những khoảng tiền này là "hành động bóp nặn".

Williams phớt lờ những lời chỉ trích như thế. "Chúng tôi không hề chủ động tiếp cận ai cả. Nếu các nhà sản xuất nước ngoài không phạm luật, chúng tôi đã không ở đây".

Williams cho biết Liên minh đã dùng một số trong số tiền trên để trả chi phí pháp lý cho hãng luật Dewey Ballantine. Hãng luật này tính tiền dịch vụ theo giờ, và chi phí phải trả lên tới hơn 3 triệu USD và sẽ còn tăng tiếp. Liên minh cũng trả tiền cho các nhà vận động hành lang ở Capitol Hill, những người mà năm ngoái đã thúc giục Chính phủ tài trợ cho ngành thuỷ sản Mỹ. Một phần trong số tiền được dùng để nâng cao ý thức người tiêu dùng tôm Mỹ đối với các sản phẩm được làm chính từ Mỹ.

Một phần trong số tiền cũng được dùng để trả chi phí thuê văn phòng cho Liên minh và cho phép nhóm có thêm nhiều thành viên hơn do phí hội viên được giảm từ 200 USD/năm xuống chỉ còn 25 USD/năm.

U ám

Nhưng nhóm của Williams cũng như ngành công nghiệp nuôi tôm Mỹ cũng phải chịu những thiệt thòi đáng kể. Trên những dòng nước ấm ở Tarpon bây giờ chỉ còn lại 6 đội thuyền tôm cá thường xuyên hoạt động, giảm mạnh so với con số 50 chiếc cách đây 3 thập kỷ.

Williams cho biết, ông chỉ cho 2 trong số 4 thuyền của mình xuống nước một lúc, do tự dự trù được doanh số bán của mình sẽ là bao nhiêu.

Năm ngoái, Williams nhận được 52.000 USD tiền bồi thường theo kênh Tu chính án Byrd. Ông cũng nhận được khoản lương 30.000 USD/năm với chức danh Giám đốc Điều hành Liên minh. Tuy vậy, Williams vẫn chưa thoát khỏi đống nợ do thất bát trong nuôi tôm. "Tôi chỉ là một trong hàng ngàn trường hợp như vậy tại cộng đồng tôm miền Nam.

Vào tháng 2/2007, hai năm sau ngày bắt đầu áp thuế nhập khẩu tôm theo dạng chống bán phá giá, Liên minh yêu cầu Chính phủ xem xét tiếp một bản yêu sách với phạm vi rộng hơn. Tuy nhiên, giờ họ dường như đang chịu cảnh gậy ông đập lưng ông: Hiệp hội chế biến tôm Louisiana cũng tự nộp yêu sách của mình, với lập trường ngược lại.

Liên minh tôm miền Nam đã không dàn xếp theo kiểu vòi tiền trong vụ việc với các nhà xuất khẩu tôm nước ngoài gần đây nhất, và điều đó cho thấy có thể họ đã nhận ra giới hạn của chính mình.

Trong khi đó, bang Louisiana, bang trước đó đã tài trợ cho Liên minh, đã yêu cầu xem xét tình hình tài chính tại của Liên minh và đang cân nhắc xem liệu chính quyền bang có được nhận một phần từ khoản tiền mà Liên minh thu được hay không.

Williams cho biết chưa có khoản tiền nào được trả cho chính quyền bang Louisiana, và cho biết Liên minh đã giải trình về tài chính với các quan chức bang. Một phát ngôn viên văn phòng Tổng chưởng lý bang Louisiana cho biết việc xem xét điều tra đang được tiếp tục.

Chen vào từ cửa sau một nhà hàng gần sông Anclote gần chỗ buộc các con thuyền tôm cá, Williams đọc lướt thực đơn và quyết định không chọn món tôm. "Có thể đó không phải là tôm nuôi tại Mỹ. Chúng ta cần sử dụng loại chính quốc", ông lẩm bẩm về một chiến thuật ông yêu thích. "Chúng ta đòi hỏi những gì chúng ta cho là công bằng".

  • Nhật Vy (Theo Wall Street Journal)

Việt Báo
contentlength: 24709
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Video: 21 tấn phế phẩm cà phê nhuộm bột pin được thu giữ
00:00 / --:--

VẤN ĐỀ KINH Tế NÓNG NHẤT

Chu tich BIDV Tran Bac Ha bi bat va nhung he luy

Chủ tịch BIDV Trần Bắc Hà bị bắt và những hệ lụy

Sau vụ rúng động tin bầu Kiên bị bắt và thị trường tài chính chao đảo hồi tháng 8/2012 thì mới đây, chiều ngày 21/02/2013, thị..

Doi 100 Usd phat 90 trieu

Đổi 100 Usd phạt 90 triệu

Một người dân ở Cần Thơ đã bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt lên tới 90 triệu đồng chỉ vì đổi tờ 100 USD tại tiệm vàng.