Quốc Tử Giám – Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam

15:21 03/09/2008

Văn Miếu - Quốc Tử Giám từ lâu đã là một khu di tích lịch sử văn hoá lớn ở trung tâm Thủ đô Hà Nội. Đặc biệt, mỗi khi xuân về du khách thập phương đến thăm quan, hành hương rất đông. Sự kiện xây dựng Văn Miếu được sách “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi như sau: “ Năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông, mùa thu tháng Tám dựng Văn Miếu đắp tượng Khổng Tử-  người sáng lập ra nền nho giáo phương Đông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam.

Với chủ trương chọn Nho Giáo là hệ tư tưởng chính trị của nhà nước, năm 1075, vua cho mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài : Đến đời vua Lý Nhân Tông (1076) nhà vua cho xây dựng thêm nhà Quốc Tử Giám, đây được coi là là trường Đại học đầu tiên của nước ta. Đời nhà Trần, Quốc Tử Giám được gọi là Viện Quốc học. Trong Văn Miếu có Khuê Văn Các (Sao Khuê là sao chủ về văn học). Việc thi cử được tổ chức đầu tiên vào năm 1075 dưới thời vua Lý Nhân Tông tới khoa thi cuối vào đời Lê Chiêu Thống (1787).

Khi mới thành lập, nhà trường có tên là Quốc Tử Giám. Năm 1236 được đổi tên là Quốc Tử Viện rồi Quốc Học Viện. Đến thời Lê được gọi là Thái Học Viện. Dù mang tên gọi gì, Quốc Tử Giám vẫn là cấp học giáo dục cao nhất thời phong kiến, do triều đình trực tiếp tổ chức và điều hành.

Nhiệm vụ của Quốc Tử Giám là rèn tập sĩ tử, gây dựng nhân tài, bảo cử các giám sinh của nhà trường với triều đình để bổ dụng quan lại. Nhà vua thân hành chọn các con cháu quan lại và thường dân tuấn tú làm giám sinh. Việc bảo cử người làm quan có hai cách là lấy người có danh vọng (thi) lấy người tài đức hơn người mà không căn cứ vào danh phận (cử). Nhà sử học Phạm Huy Chú đã nhận xét: “ Bấy giờ việc làm ấy thận trọng mà trường pháp lại nghiêm cho nên không ai dám bảo cử thiên tư, các chức đều xứng đáng”. Bởi vậy, Quốc Tử Giám đã làm tròn trách nhiệm tuyển chọn nhân tài cho đất nước

.vanmieu.bmp

Ảnh: Khuê văn các

Các sách được dùng trong nhà trường là kinh sách Nho giáo, được chia làm hai phần. Các sách nhập môn là Tam tự kinh, Sõ học vấn tâm, Ấu học ngũ ngôn thi, Minh Đạo gia huấn. Các sách cơ bản là Tứ thưNgũ kinh trong đó Tứ thư bao gồm: Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại Học, Trung Dung; Ngũ Kinh bao gồm 5 cuốn sách là: Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch và Kinh Xuân Thu. Ngoài ra, các giám sinh phải học cả các sách Nam sử và Bắc sử để thông hiểu lịch sử Việt Nam và Trung Hoa. Muốn có tên trên bảng vàng, người học thường phải trải qua “ mười năm đèn sách, rùi mài kinh sử”. Đây thật sự là một chặng đường đầy khó khăn, vất vả.

Những người được giảng dạy trong Quốc Tử Giám  đều là những vị quan giỏi do vua trực tiếp tuyển chọn, nhưng ở thời Lý, những người làm nhiệm vụ giảng dạy đó đều chưa có chức danh cụ thể. Đến thời Hồng Đức thế kỷ XV, vua Lê đã ban các chức danh là: Tế tửu: Phụng mệnh trông coi Văn Miêu - Quốc Tử Giám, rèn tập sĩ tử và kiêm luôn làm chủ tế của Văn Miếu; Tứ nghiệp: Là người trợ giúp cho Tế tửu trong việc giảng dạy và trông coi Quốc Tử Giám. Quốc Tử Giám đã ghi danh những danh nho nổi tiếng đã hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ này là Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh, Ngô Sĩ Liên, Lê Quý Đôn…

Trên những tấm bia có khắc tên những nhà sử học, bác học, văn học nổi tiếng như Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu (Nhà sử học) Lê Quý Đôn (bác học), Lương Thế Vinh (Toán học), Lương Như Hộc (ông tổ nghề in), Ngô Thì Nhậm (Nhà văn học)...

Để chuẩn bị cho kỳ thi Hội, các giám sinh phải tập trung sức lực vào luyện tập lối “văn chương cử tử”. Nội dung kiến thức được trình bày trong các thể loại: Kinh nghĩa, Chiếu, Chế, Biểu, Thõ, Phú, Văn sách.

Như vậy, các quy tắc tổ chức, hoạt động của Quốc Tử Giám rất nghiêm ngặt, nội dung học tập cũng rất bài bản, quy củ. Vì vậy, trong suốt gần một thế kỷ (1076 - 1802), Quốc Tử Giám đã đào tạo được rất nhiều nhân tài, đáp ứng được nhu cầu về đội ngũ quan lại phụng sự cho đất nước. Bởi vây, Quốc Tử Giám là niềm tự hào của nhân dân ta bởi nó đã thể hiện truyền thống hiếu học của người Việt.

Quốc Tử Giám xứng danh là một công trình văn hoá lớn của dân tộc, niềm tự hào của nhân dân Việt Nam và người dân Hà Nội - Thủ đô anh hùng -Thành phố vì hoà bình.

Vũ Chiên

 

 

contentlength: 7081
Chia sẻ

Video nổi bật

Bảo tồn giá trị khu dự trữ sinh quyển Langbiang
00:00 / --:--

Bài viết khác

Xem tiếp >>

VẤN ĐỀ KHáM PHá VIệT NAM NÓNG NHẤT