Tư duy “đại học đại chúng” và sự phát triển đại học ở Việt Nam

17:57 01/01/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Nền đại học nước ta hiện nay đang rất cần một tư duy chiến lược đúng đắn để tiến lên, làm đầu tàu cho cả sự nghiệp giáo dục.

Tu duy dai hoc dai chung va su phat trien dai hoc o Viet Nam

Khoảng 20 năm gần đây, trong các bài báo và ở các hội nghị bàn về đại học, xuất hiện nhiều dần thuật ngữ “đại học đại chúng” và các luận điểm như “phải thay thế đại học tinh hoa bằng đại học đại chúng” , “phải chuyển ngay cách chỉ đạo về cơ bản còn theo tư duy đại học tinh hoa hay đại học cho số ít sang tư duy đại học đại chúng” hoặc “tư duy đại học đại chúng là hướng đúng và trúng để giải quyết mối mâu thuẫn cơ bản giữa yêu cầu phát triển quy mô, nâng cao chất lượng trong khi các điều kiện về nhân lực, vật lực của ta còn rất hạn chế”…

Tôi xin tạm gọi các ý kiến trên và nhiều ý kiến tương tự mà tôi sẽ nhắc đến dưới đây là thuộc tư duy “đại học đại chúng”.

Nền đại học nước ta hiện nay đang rất cần một tư duy chiến lược đúng đắn để tiến lên, làm đầu tàu cho cả sự nghiệp giáo dục, đáp ứng được nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tư duy “đại học đại chúng” có phải là tư duy chiến lược mà nền đại học nước ta đang cần đó không?

Để trả lời câu hỏi quan trọng này, cần làm rõ 3 vấn đề sau đây:

- Thế nào là giáo dục đại học cho số đông và đại học cho số ít? Nền đại học của ta từ 1945 tới nay là đại học cho số đông hay cho số ít?

- Tư duy cách làm giáo dục cho số đông khác tư duy cách làm giáo dục cho số ít thế nào?

- Cách làm giáo dục cho số đông giúp gì và đến đâu cho việc giải quyết mối mâu thuẫn cơ bản giữa quy mô, chất lượng và điều kiện?

1. Về câu hỏi thứ nhất:

a. Có ý kiến tiếp thu một sự nghiên cứu nào đó của nước ngoài, cho rằng một nền đại học có tỷ lệ từ 15% trở lên giữa số sinh viên và số thanh niên đến tuổi đi học đại học là một nền đại học cho số đông (tức đại học đại chúng), còn dưới tỷ lệ đó là đại học cho số ít.
Một tiêu chuẩn phân biệt đại học cho số đông với đại học cho số ít, căn cứ vào một tỷ lệ kiểu như vậy, nhiều lắm là chỉ có giá trị tham khảo vì nó rất không thực chất, rất máy móc (tại sao lại không phải là 13%...) và làm sao có thể dựa vào một tỷ lệ như vậy để tuyên bố nền đại học của nước ta “cần thiết phải thực hiện ngay quá trình chuyển dịch sang thời kỳ giáo dục đại học cho số đông”?

Cách xác định tính chất một nền đại học – dù chỉ là về mặt quy mô - kiểu như vậy, tức là tách rời quy mô với chất lượng, với hiệu quả (hiệu quả cho đất nước và hiệu quả cho bản thân người học) là rất phiến diện, hơn thế nữa là rất nguy hiểm nếu muốn dùng kiểu phân biệt đó làm cơ sở đưa ra phương châm cho sự phát triển giáo dục đại học.

b. Tiêu chuẩn thực chất, toàn diện và cơ bản để phân biệt một nền đại học cho số đông với nền đại học cho số ít phải căn cứ vào đường lối, quan điểm của nền giáo dục đó nhằm phục vụ ai nói chung, và nói riêng là có ý đồ (công khai hay che giấu) muốn hạn chế hay muốn mở rộng số người được học đại học, và căn cứ vào cách thức nền giáo dục đó tổ chức thực hiện có nhất quán với đường lối, ý đồ nói trên không.

Nền đại học ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc là nền đại học cho số ít, vì rõ ràng đường lối, ý đồ (nửa công khai, nửa che giấu) của thực dân Pháp là muốn hạn chế số người được học đại học (vì những lẽ gì thì ai cũng rõ).

Còn ở nước ta từ sau Cách mạng tháng 8 – 1945 tới nay, xét theo đường lối, ý đồ rõ ràng và cách thức tổ chức thực hiện phát triển đại học, thì ai lại có thể tuyên bố rằng nền đại học của ta là nền đại học cho số ít? (xin hãy nhớ lại thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khó khăn và gian khổ như vậy mà ở Việt Bắc, ở khu 4 vẫn mở các trường, các lớp đại học, hơn thế nữa còn nhờ nước bạn Trung Hoa cho mượn địa điểm và giúp đỡ hậu cần để ta tổ chức Khu học xá Trung ương, trong đó có 2 trường đại học ngắn hạn; rồi các mốc phát triển rất mạnh về hệ thống đại học các năm 1956, 1960, 1970, 1980, 1990 cho tới nay.

Cũng xin nhớ lại những chủ trương, chính sách liên tục và nhất quán từ 1945 tới nay để mở cửa trường đại học cho các tầng lớp nhân dân, trong đó chú trọng công nông, dân tộc thiểu số, bộ đội, cán bộ, hoặc bằng điểm ưu tiên, hoặc qua các lớp bổ túc công nông, dự bị đại học…).

c.Y đồ của một nền đại học cho số ít được thể hiện bằng 2 cách để hạn chế số người đi học đại học:

- Hoặc chỉ (hay chủ yếu) dành cho một số tầng lớp đặc quyền, đặc lợi (tức là những kẻ có chức, có quyền, có của).

- Hoặc chỉ (hay chủ yếu) cho người được coi – theo một cách đánh giá nào đó – là “thông minh”, “học giỏi” nhất.

- Và thường là kết hợp cả hai cách hạn chế nói trên.

Cách hạn chế thứ nhất, trên thế giới cũng như ở nước ta, từ lâu, ít nhất là từ nửa sau thế kỷ XX, không còn nữa. Còn cách hạn chế thứ hai – chỉ cách này mới nên gọi là đại học tinh hoa – vẫn được và cần được tiếp tục áp dụng, nếu không muốn có một nền đại học “tầm tầm”, miễn là quan niệm cho đúng thế nào là “thông minh” là “học giỏi”... và kết hợp đúng kiểu “đại học tinh hoa” đó với các hình thức đại học khác mà chúng ta sẽ bàn kỹ hơn dưới đây khi trao đổi về khái niệm “phân tầng chất lượng đại học”.

Vì vậy sẽ là rất sai lầm và nguy hiểm khi đưa ra những công thức mơ hồ như “đại học đại chúng đối lập với đại học tinh hoa”, thời đại mới cần “thay thế đại học tinh hoa bằng đại học đại chúng”… Xin nhớ lại những trường “đại học tinh hoa” (chọn lọc tuyển sinh rất chặt chẽ) trên thế giới có danh tiếng từ lâu và nay vẫn là niềm kiêu hãnh của các nước có các trường đó vì là biểu tượng tinh hoa, trí tuệ của các nước ấy như Oxford và Cambridge của Anh, Đại học Sư phạm Paris và Đại học Bách khoa của Pháp, Harvard và MIT của Hoa Kỳ, Lomonosov của Liên Xô…

Cũng xin nhớ là sau hơn nửa thế kỷ xây dựng nền đại học, ta vẫn chưa có, tuy rất cần có, một hay vài trường đại học được gọi là đại học tinh hoa của nước ta, để phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp xây dựng nước nhà.

2. Về câu hỏi thứ hai:

Tư duy của đại học cho số ít là tư duy muốn hạn chế số lượng người đi học đại học bằng một trong hai hay cả hai cách tôi đã trình bày ở điểm 1.

Vậy còn tư duy đại học đại chúng là gì? Nếu nói đó là tư duy muốn phát triển đại học, thì chả có gì để phải tranh luận vì đó là việc nước ta (và cả thế giới) đang làm và đã làm ít nhất từ nửa sau thế kỷ XX. Nếu nói đó là tư duy muốn phát triển đại học cho nhanh chóng vượt cái tỷ lệ 15% đã nói trên thì như tôi đã trình bày, đó là tư duy hình thức, máy móc, phiến diện và tóm lại là nguy hiểm cho sự nghiệp giáo dục đại học của ta. Theo một bài báo khác, đó có thể là tư duy: “Phát triển mạnh quy mô, trên cơ sở đó xác định các tầng chất lượng và điều kiện đảm bảo đối với từng tầng, từng dạng chất lượng”.

Trong công thức nói trên có một khái niệm rất quan trọng: đó là khái niệm phân tầng chất lượng đại học.

Qua bài báo đã dẫn, có thể hình dung phân tầng chất lượng là các tầng quốc tế, quốc gia, cộng đồng mà các “giải pháp sơ bộ… đã có trong thực tế và đã được ghi vào các Nghị quyết như mở rộng các loại trường cao đẳng cộng đồng ngắn hạn 2, 3 năm... (tôi xin không trích dẫn đầy đủ đoạn này khá dài). Tôi chỉ xin lưu ý là nếu đúng như những câu chữ tôi đã nhấn mạnh (và đúng là như vậy) thì tại sao bài báo lại có thể khẳng định tư duy đại học đại chúng đang có mâu thuẫn (tức là bị chống đối, bị cản trở) bởi tư duy chỉ đạo về cơ bản… vẫn còn dựa trên quan niệm giáo dục đại học cho số ít?

Nếu nói là đang bị chống đối, bị cản trở bởi một luồng tư duy đại học cho số ít đang có trong xã hội hay trong một bộ phận nào đó ở các cơ quan quản lý giáo dục hay cán bộ giảng dạy thì còn lô gích (tuy không đúng thực tế vì không có một luồng tư duy như vậy) chứ làm sao có thể cái đã được ghi vào Nghị quyết và đã được thực hiện trong đời sống lại mâu thuẫn với tư duy chỉ đạo về cơ bản? (vì hai cái đó là một!).

Trong công thức tôi trích dẫn ở trên mà tôi coi là tư duy đặc trưng cho trường phái “đại học đại chúng”, có một cái sai lớn là đã đặt vấn đề phân tầng chất lượng trên cơ sở phát triển mạnh về quy mô (đáng lẽ phải đặt ngược lại mới đúng) và có cái mơ hồ cũng rất lớn là không rõ dùng tiêu chuẩn gì để phân tầng. Cái sai và cái mơ hồ đó liên quan với nhau; cái sai đưa đến cái mơ hồ và cái mơ hồ dẫn đến những cái sai khác.

Trước hết dùng tiêu chuẩn gì để phân tầng? Trong lịch sử giáo dục, chúng ta thấy có 2 loại tiêu chuẩn khác nhau, trái ngược nhau dùng để phân tầng:

Một là phân tầng theo trình độ những người muốn học đại học và được nhận vào học đại học. Đây là loại phân tầng đã có chủ yếu cho các trường tư, mà điển hình là các trường đại học tư ở Hoa Kỳ (và một số ít nước làm theo Hoa Kỳ): có trường tuyển sinh rất chặt chẽ (10 người nộp đơn chỉ lấy 3 hay ít hơn) đó là những trường tinh hoa “muốn xây dựng và giữ uy tín chất lượng cho trường mình”; có trường tuyển sinh ở mức trung bình (10 người lấy 5); có trường tuyển sinh ở mức thấp (10 người lấy 7); có trường tuyển hết, ai muốn học đều được nhận, các loại trường này chủ yếu là nhằm lợi nhuận, ít hay không cần đến uy tín của trường, lại ứng đáp được yêu cầu muốn “học giả mà lại được bằng thật” loại trường này ở Hoa Kỳ gọi là degrees mill – lò sản xuất học vị.

Phải chăng đây chính là cách phân tầng chất lượng đại học mà trường phái “đại học đại chúng” muốn đưa vào nước ta không những cho trường tư mà cả cho trường công? Chỉ có cách phân tầng theo kiểu này mới nhận được nhanh và nhiều số người muốn học đại học để mau chóng vượt cái tỷ lệ 15% đã nói ở trên.

Hai là phân tầng chất lượng theo yêu cầu nhân lực cần thiết cho việc xây dựng (và bảo vệ) đất nước. Cả thế giới và cả ta đã biết kiểu phân tầng này từ đầu thế kỷ XX và đã thực hiện rộng rãi từ nửa sau thế kỷ đó, thể hiện qua việc chia đại học (hay cao đẳng) thành dài hạn và ngắn hạn, chia ra các loại trường đào tạo 4 – 5 năm, loại trường đào tạo 2 - 3 năm… qua các khái nhiệm giáo dục sau trung học hoặc giáo dục bậc Ba (tertiaire) rộng hơn khái niệm giáo dục đại học.

Nếu theo kiểu phân tầng này thì phải nói “trên cơ sở phân tầng chất lượng một cách hợp lý theo yêu cầu đào tạo nhân lực mà mở rộng quy mô đại học để tiếp nhận học sinh đến tuổi vào đại học theo một tỷ lệ tương ứng với sự phân tầng đó và với khả năng bảo đảm điều kiện tối thiểu cho mỗi tầng”, tức là một phương châm trái ngược lại như đầu với chân so với bài báo đã dẫn. Bài báo này còn cho đó chỉ mới là các “hình thức sơ bộ”. Vậy phải chăng kiểu phân tầng cao sâu hơn là phân tầng theo trình độ học sinh đã nói ở trên?

Cần chỉ rõ thêm một sai lầm lớn nữa của trường phái “đại học đại chúng” là chỉ lo chăm chú đến phân tầng chất lượng của đại học (và phân tầng sai) mà lãng quên không đặt nó trên cơ sở một sự phân tầng cơ bản hơn là phân tầng chất lượng nhân lực thành dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và đại học: sai lầm đó giải thích tại sao hai tầng dạy nghề và trung học chuyên nghiệp bị bỏ lay lắt trong gần 20 năm qua và tại sao tuy nói nhiều nhưng không thực hiện được việc phân luồng (trường phái đại học đại chúng chỉ lo và chỉ muốn nhận tất cả thanh niên tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học để phân tầng và để hoàn thành và hoàn thành vượt mức tỷ lệ số mệnh 15% đã nói ở trên!).

Các sai lầm nói trên của trường phái “đại học đại chúng” bắt nguồn từ tư duy đặt nhu cầu học tập đại học của thanh niên lên trên nhu cầu nhân lực cần thiết của đất nước, trong khi đáng lẽ phải đặt ngược lại và chỉ có đặt ngược lại như vậy mới có yêu cầu phân luồng.

Trường phái “đại học đại chúng” có ý kiến chỉ cần quản lý đầu ra (thi tốt nghiệp) chứ không nên quản lý đầu vào (thi tuyển sinh) tức là cứ cho tất cả vào đại học rồi bằng cách phân tầng theo trình độ, các trường đại học sẽ nâng trình độ họ lên và sẽ đào thải từng bước những người quá kém.

Hai việc đó là trách nhiệm của các trường nhưng mong nâng được số đông “đầu vào” quá kém sẽ là ảo tưởng, còn sẽ đào thải số đông “đầu vào” này sau khi cứ cho họ vào học 1 hay 2 hay 3 năm đại học, sẽ là một sự lãng phí lớn đối với xã hội và cả đối với bản thân người được nhận vào quá tuỳ tiện, thành ra như bị đánh lừa (chưa nói là nếu tốt nghiệp còn có thể bị thất nghiệp vì cách tuyển sinh không tính đến nhu cầu nhân lực của đất nước). Rõ ràng cách làm này chỉ làm gay gắt hơn mâu thuẫn giữa quy mô, chất lượng và điều kiện!

Bài báo đã dẫn tỏ sự quan tâm tới chất lượng của trường phái “đại học đại chúng” bằng cách kêu gọi “các trường đại học hãy coi chất lượng là uy tín và danh dự của mình” sau khi muốn cho các trường đó tự chủ và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn hay gần như là hoàn toàn. Phải chăng đó lại là một thứ ảo tưởng to lớn nữa? Trên thị trường giáo dục bán và mua “hàng hoá giáo dục” mà có người cũng thuộc trường phái “đại học đại chúng” đang muốn đưa ra thành đường lối chính thức của nền đại học công của ta, nếu để cho các trường tự chủ và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn thì động lực để làm giáo dục là lợi nhuận, là tiền, chứ không phải là uy tín và danh dự suông!

Với cách làm này, trong điều kiện của ta, không thể mong có trường đại học không những ở tầng và tầm quốc tế mà cả ở tầng và tầm quốc gia cũng rất khó thành hiện thực. Xin hãy nhìn vào thực trạng hiện nay các trường đại học công ở ta, kể cả các trường lớn nhất của ta, và xin nhớ lại chúng ta đã để bao nhiêu công sức mà bây giờ cũng chỉ mới được như vậy. Trái lại, chúng ta sẽ có ngay và có nhiều trường “học giả, bằng thật”.

3. Về câu hỏi thứ ba, tôi đã kết hợp nói đến khi phân tích hai câu hỏi thứ nhất và thứ hai ở trên, chỉ xin nói thêm như sau:

Cùng một lượng đầu tư cho đào tạo, nếu phân tầng chất lượng hợp lý, thì có thể tăng thêm số sinh viên vào đại học; nhưng cũng không thể tăng quá nhiều vì đầu tư cho đào tạo cũng sẽ phải tăng theo. Tóm lại, tư duy “đại học đại chúng” không phải là một thứ “bửu bối” để phát triển mạnh quy mô mà không ảnh hưởng tới chất lượng; quy mô càng tăng mạnh, chất lượng càng bị ảnh hưởng theo!

Cũng vì lý do đó, tôi đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cân nhắc kỹ càng ý định tăng tuyển sinh đại học từ 2005 trở đi với tốc độ gấp đôi tốc độ tăng năm 2004. Đó có phải là do ảnh hưởng của tư duy “đại học đại chúng” không?

*
* *

Nền giáo dục nước ta nói chung và nhất là nền đại học nói riêng đang có dấu hiệu một sự tụt hậu và khủng hoảng: điều này đã có rất nhiều người nói to trên các diễn đàn hội nghị hay các báo chí và nói nhỏ, than thở, lắc đầu khi nói chuyện riêng. Tất nhiên cũng có những tiếng nói lạc quan, nhưng hình như ít hơn, yếu hơn nhiều lắm.

Dù sao, lạc quan hay lo lắng, ai cũng muốn tìm tòi đề xuất phương hướng để đưa giáo dục, nhất là đại học nước ta tiến lên. Trên tinh thần đó, phải hoan nghênh các suy nghĩ muốn “đổi mới” của những vị mà tôi đã xin phép tạm gọi là thuộc trường phái “đại học đại chúng” (một tên gọi còn mơ hồ vì chưa thật rõ nội dung).

Nhưng song song với các tìm tòi và đề xuất cần khuyến khích đó, cũng rất cần trao đổi, tranh luận thẳng thắn, theo tinh thần “thực sự cầu thị”, mong “gạn đục khơi trong” để cùng nhau đi đến tìm ra con đường tiến lệ cho nền giáo dục đang được coi là “quốc sách hàng đầu” của nước nhà.

Lê Văn Giạng

Việt Báo
contentlength: 22183
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Tranh cãi về màn oẳn tù tì bốc thăm chọn thí sinh thắng cuộc "Đường lên đỉnh Olympia"
00:00 / --:--

VẤN ĐỀ GIáO DụC NÓNG NHẤT

Nu sinh bi lot do danh hoi dong da man tren lop o Hung Yen

Nữ sinh bị lột đồ, đánh hội đồng dã man trên lớp ở Hưng Yên

Liên quan việc 5 nữ sinh lớp 9 trường THCS Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đánh liên tiếp vào người, đầu và lột đồ em N.T.H.Y,..

Co giao vao khach san co quan he bat chinh voi nam sinh lop 10

Cô giáo vào khách sạn, có quan hệ bất chính với nam sinh lớp 10

Vụ việc gây xôn xao dư luận khi cô giáo dạy Toán của trường THPT Nguyễn Huệ (thị xã Lagi) thuộc tỉnh Bình Thuận có quan hệ bất..