Đổi mới dạy và học ngoại ngữ có khả thi?

10:16 18/06/2006
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Đề án về đổi mới dạy và học ngoại ngữ với con số 16.000 tỉ đồng kinh phí, với những đề xuất gây tranh cãi, với những mục tiêu phải... hơn 10 năm nữa mới có thể nhìn thấy kết quả...

Doi moi day va hoc ngoai ngu co kha thi
TS Nguyễn Lộc. Ảnh: Tuổi Trẻ
Phải mất gần bốn năm, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục (Bộ GD-ĐT) mới xây dựng xong đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân 2006-2015”.

Nhưng ngay khi vừa “trình làng”, đề án này đã vấp phải không ít ý kiến phản đối, trong đó có những ý kiến khá gay gắt từ ngay trong ngành giáo dục.

Để bạn đọc rõ thêm về đề án này, chúng tôi đã trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Lộc - phó viện trưởng Viện Chiến lược và chương trình giáo dục - người chịu trách nhiệm xây dựng đề án này.

Thưa ông, tại sao lại phải xây dựng riêng một đề án về việc dạy và học ngoại ngữ vào thời điểm này?

Kết quả nghiên cứu suốt mấy năm của chúng tôi có thể đưa ra một số nhận xét chung: trình độ ngoại ngữ của học sinh sinh viên Việt Nam nhìn chung còn thấp, hiệu quả sử dụng còn hạn chế.

Phần lớn sinh viên đại học chưa có khả năng sử dụng ngoại ngữ để tham khảo, nghiên cứu tài liệu nước ngoài hoặc theo học các chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài.

Điều này dẫn đến sự lãng phí về thời gian cũng như nguồn lực của Nhà nước và cá nhân trong quá trình dạy và học ngoại ngữ hiện nay.

Hiện nay lộ trình đổi mới chương trình sách giáo khoa phổ thông, trong đó có môn ngoại ngữ, còn chưa hoàn tất. Việc phải xây dựng một đề án riêng về đổi mới dạy và học ngoại ngữ liệu có gây ra tình trạng chồng chéo, lãng phí?

Việc xây dựng đề án này là chủ trương của Quốc hội và Chính phủ, trong xu thế đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục. Vấn đề xây dựng đề án được đặt ra vào giai đoạn 2000 - 2001, lúc bắt đầu triển khai việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông.

Dạy và học ngoại ngữ là lĩnh vực khá phức tạp và khó, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng vì thế đến nay chúng tôi mới trình được với Bộ GD-ĐT bản đề án này.

Cứ sau mỗi lần được đầu tư, nghiên cứu lại cho ra sản phẩm là một bộ sách mới dẫn đến tình trạng cùng lúc có nhiều chương trình ngoại ngữ, nhiều kiểu sách nhưng tổng thể chương trình ngoại ngữ trong nhà trường của chúng ta vẫn chưa hệ thống và liền mạch...

Đề án mà chúng tôi xây dựng đưa ra đề xuất quan trọng nhất là việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục Việt Nam phải được thiết kế theo một bảng trình độ năng lực ngoại ngữ thống nhất. Bảng năng lực này sẽ làm nền tảng đảm bảo tính liên thông về chương trình giữa các cấp học.

Sau những lần đổi mới trước chưa mang lại kết quả như mong muốn, cơ sở nào khiến ông cho rằng đề án này sẽ cải thiện được tình hình dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường?

Học ngoại ngữ phải có thời lượng nhất định đủ để người học đạt được kỹ năng và kiến thức. Chương trình ngoại ngữ ở phổ thông hiện nay là 700 tiết (chương trình bảy năm). Đối với chương trình ba năm, thời lượng còn ít hơn. Thời lượng này quá ít để học sinh đạt được kỹ năng và kiến thức đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Vì vậy, trong đề án chúng tôi đề xuất tăng thời lượng, chương trình ngoại ngữ phổ thông sẽ bắt đầu từ lớp 3, trong 10 năm với tổng cộng 1.300 tiết, gần gấp đôi hiện nay. Về chất lượng, sẽ có sự liên tục kế thừa giữa các cấp học.

Tiếng Anh không đứng tách rời các môn học khác

Là một người tham gia phản biện cho đề án này, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD - ĐT có mấy đề nghị:

Khi đánh giá tổng quan về tình hình dạy học ngoại ngữ ở nước ta, nên phân tích thêm những yếu kém trong phương pháp dạy học ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ dạy học và đo lường đánh giá kết quả học tập ngoại ngữ.

Về nguyên nhân của các yếu kém trong dạy học ngoại ngữ nên bổ sung hai nguyên nhân nữa là:

1) Sức ép của đổi mới chương trình giáo dục dẫn đến nội dung học tập trở nên quá tải do thiết kế chương trình thiếu tính tích hợp, tiêu chuẩn và phương pháp dạy lạc hậu nên ngoại ngữ trở thành môn thứ yếu của giáo dục tiểu học và THCS.

2) Chương trình đào tạo tại các trường sư phạm ngoại ngữ không được đổi mới theo xu hướng cải cách giáo dục thể hiện chủ yếu ở: mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy - học, đo lường đánh giá.

Định hướng dạy ngoại ngữ tiếng Anh phủ kín ở các vùng miền và là bắt buộc trong hệ thống giáo dục quốc dân cần cân nhắc đến tính khả thi của nó về các phương diện: đội ngũ giáo viên, đặc điểm văn hóa xã hội và sự phát triển không đồng đều ở các vùng miền, đặc điểm (background) của học sinh.

Đồng thời cần cân nhắc đến mối liên hệ với các chương trình đổi mới sách giáo khoa khác vì tiếng Anh không thể đứng tách rời ra khỏi những môn học khác ở phổ thông.

Khi chú ý đến hội nhập kinh tế mọi người đều thừa nhận tiếng Anh hiện nay và sau này có tầm quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng.

Tuy nhiên, nói đến hội nhập thế giới cần chú ý đến hội nhập vùng và khu vực trước.

Hay nói cách khác, tiếng Anh dạy ở bậc phổ thông cần đảm bảo được chuẩn mực tối thiểu, để có thể giới thiệu một số tiếng của khu vực như tiếng Trung, Thái, Malaysia, Hàn Quốc... như là phần tự chọn cho những tỉnh, thành phố nào có quan hệ hợp tác kinh tế với các đối tác nước ngoài để đảm bảo chính sách không quá cứng.

Để có sự thay đổi trong việc dạy và học ngoại ngữ phải cùng lúc có nhiều giải pháp. Chúng tôi đã đề xuất cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp như: chương trình đào tạo ngoại ngữ tại các trường đại học, dù chuyên và không chuyên ngữ, đều sẽ gồm nhiều chương trình, phải có ít nhất là bốn chương trình đáp ứng các trình độ đầu vào khác nhau.

Khác với từ trước đến nay, sinh viên vào trường bất kể trình độ cao thấp, chênh lệch như thế nào đều đồng loạt học theo một chương trình. Nếu thực hiện theo đề án đổi mới này, các trường đại học, cao đẳng sẽ áp dụng hệ thống trắc nghiệm riêng để sau khi sinh viên trúng tuyển tiếp tục phân loại và chia lớp học theo các trình độ tương ứng.

Giải pháp thứ hai là về đội ngũ giáo viên: các trường tiểu học và THCS cần được bổ sung đủ đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ.

Chúng tôi ước tính từ nay đến năm học 2008 - 2009 cần bổ sung thêm ít nhất 16.600 giáo viên dạy ngoại ngữ ở bậc tiểu học và 4.800 giáo viên dạy ở các trường THCS. Đến giai đoạn tiếp theo 2010 - 2011, cần bổ sung thêm 16.600 giáo viên ngoại ngữ bậc tiểu học và 1.500 bậc THCS.

Đồng thời cần có sự khảo sát, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng chú trọng nâng cao các kỹ năng ngoại ngữ cũng như các kỹ năng phụ trợ như sử dụng thiết bị đa phương tiện, sử dụng Internet và các phần mềm, chương trình giảng dạy ngoại ngữ hiện đại cho đội ngũ giáo viên.

Chúng tôi cũng đề nghị khuyến khích các trường mời hoặc tuyển dụng giáo viên là người Việt Nam sống ở nước ngoài hoặc giáo viên là người bản ngữ.

Song song với việc nâng chất lượng và số lượng giáo viên là yêu cầu phải tăng cường trang thiết bị thiết yếu phục vụ dạy và học ngoại ngữ. Muốn dạy và học ngoại ngữ có hiệu quả cao thì không thể nói suông, phải có phương tiện như phòng học đa phương tiện, giáo trình, sách giáo khoa, phần mềm...

Với thực trạng giáo dục hiện nay, cơ sở nào khiến đề án xác lập mục tiêu đến năm 2020, phần lớn thanh thiếu niên Việt Nam thành thạo ngoại ngữ?

Mục tiêu nêu trong đề án là “phần lớn thanh thiếu niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ”.

Như vậy, yêu cầu với đa số không đòi hỏi trình độ ngoại ngữ cỡ chuyên gia mà đặt ra mức độ năng lực sử dụng, trong đó đầu tiên là ở môi trường giao tiếp, đến học tập và phục vụ cho làm việc được xếp cuối cùng.

Nhìn chung, mục tiêu cơ bản là khiêm tốn, ví dụ như đối với học sinh tốt nghiệp THPT đạt trình độ bậc 3 tức là có thể sử dụng ngoại ngữ một cách thuần thục để giao tiếp, tiếp tục học tập hoặc làm những công việc thông thường phù hợp với trình độ học vấn như bán hàng chẳng hạn mà không cần phải đào tạo thêm...

Vậy khái niệm “phần lớn” nên hiểu như thế nào, tương đương bao nhiêu phần trăm, thưa ông?

Không xác định tỉ lệ cụ thể nhưng phải là số đông, phải chiếm đa số...

Tại sao đề án nhằm “đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân” lại chỉ đặt mục tiêu “khiêm tốn” như vậy?

Đối với một số nơi như TP.HCM, Hà Nội... đề án này có vẻ lạc hậu. Nhưng đối với một số địa phương khác, mục tiêu của đề án lại có thể là còn cao quá.

Chúng tôi quyết định phải xây dựng đề án theo hướng đứng giữa hai thái cực, vừa sức cho cả nước. Sự thích ứng được giải quyết bằng một lộ trình thực hiện tương đối chậm rãi trong 15 năm nữa, thu hút các địa phương thực hiện theo từng mức độ điều kiện.

Trong giai đoạn trước mắt, chấp nhận có sự khác biệt trong dạy và học ngoại ngữ về chương trình, trình độ, số lượng và ngoại ngữ cụ thể cần dạy đối với các vùng miền, địa phương và cơ sở giáo dục khác nhau.

Tuy nhiên, vẫn khuyến khích các địa phương, các trường học có điều kiện triển khai với nhịp độ nhanh hơn với trình độ cao hơn so với yêu cầu của đề án.

Khoản kinh phí đầu tư dự kiến là 16.000 tỉ đồng dành cho việc đổi mới dạy và học ngoại ngữ sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc thực hiện những mục tiêu của đề án này?

Tôi xin nói rõ thêm về con số 16.000 tỉ đồng kinh phí được nêu trong đề án. Đó không phải là một khoản đầu tư trọn gói cho đề án. Đây là khoản dự toán nhu cầu kinh phí để thực hiện những mục tiêu, giải pháp của đề án từ nay đến năm 2020 và được lồng ghép vào các chương trình, đề án, dự án liên quan đang được thực hiện như các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục đào tạo, các dự án có nguồn vốn nước ngoài.

Trong đó có các đề án lớn như “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa”, “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục”... đang được triển khai. Như vậy không phải là Nhà nước sẽ phải chi một khoản 16.000 tỉ đồng để thực hiện riêng đề án này.

Một điểm mấu chốt của đề án khi xác định kinh phí để đổi mới dạy và học ngoại ngữ là nhằm có sự sắp xếp lại những đòi hỏi về đầu tư đối với công việc này.

Còn về hiệu quả của đề án, tôi cho rằng trước hết phải có sự tin tưởng. Khó có thể chứng minh ngay bằng sự cân đong đo đếm. Phải đến sau năm 2020 mới có sự thay đổi đại trà.

Đề án đã gây ra một cuộc tranh luận xung quanh việc lựa chọn “ngoại ngữ chính” với đề xuất gây “sốc”: trong những năm tới chỉ tập trung đầu tư cho tiếng Anh?

Vấn đề khó nhất đối với chúng tôi trong quá trình xây dựng đề án này là chọn ngoại ngữ nào là ngoại ngữ chính. Việc đưa ra đề nghị ưu tiên tập trung đầu tư cho một ngoại ngữ là căn cứ trên thực tiễn và những lời khuyên của các chuyên gia quốc tế, cân nhắc các điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Chúng tôi chỉ đặt ra vấn đề: ưu tiên một ngoại ngữ và dành nguồn lực ưu tiên chứ không phải chỉ chọn duy nhất một ngoại ngữ.

Chọn một ngoại ngữ để ưu tiên đầu tư nguồn ngân sách, Nhà nước phải lo được đầy đủ chương trình, sách giáo khoa, giáo viên..., người học phải được cung cấp các điều kiện học tập. Còn những ngoại ngữ khác không cấm cũng không có sự hạn chế.

Những ngoại ngữ khác vẫn tiếp tục phát triển bình thường như hiện nay theo nhu cầu và sự lựa chọn của xã hội, của người học.

Ngoài hệ thống nhà trường chính qui, chúng ta còn có một hệ thống các trung tâm, cơ sở ngoại ngữ phi chính qui rất phát triển, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội.

Ngay trong nhà trường, chúng tôi cũng chỉ đề xuất trong năm 2007, các tỉnh thành xác định một trong các ngoại ngữ gồm tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung để ưu tiên dành các nguồn lực cho dạy và học ngoại ngữ đó ở địa phương mình và việc học ngoại ngữ được chọn là bắt buộc đối với tất cả học sinh phổ thông trên địa bàn.

Đối với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề không chuyên ngữ, việc xác định chọn một ngoại ngữ nào trong bốn thứ tiếng kể trên để ưu tiên dành nguồn lực cũng do nhà trường quyết định.

Bảng đánh giá năng lực ngoại ngữ cũng được xây dựng theo quan điểm có thể áp dụng cho tất cả các ngoại ngữ được giảng dạy ở Việt Nam.

Chương trình dạy và học ngoại ngữ (theo đề án)

- Khác từ chương trình, cách tuyển chọn, phân loại trình độ người học đến đánh giá trình độ. Từ trước đến giờ, Việt Nam chỉ có thang bậc đánh giá là trình độ A, B, C đối với học không chính qui. Trong giáo dục - đào tạo chính qui lại chưa có.

Theo đề án, trình độ ngoại ngữ của người học được đánh giá theo một bảng năng lực ngoại ngữ thống nhất gồm sáu bậc trình độ, tương ứng với từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.

Bảng đánh giá này được xây dựng trên cơ sở tham khảo Hiệp hội Các nhà khảo thí ngoại ngữ châu Âu. Đối với tiếng Trung, chúng tôi tham khảo thang bậc đánh giá của Trung Quốc, họ cũng sắp xếp theo sáu thang bậc rõ ràng.

Với bộ đánh giá này, chúng ta có thể bỏ chứng chỉ A, B, C. Dạy và học ngoại ngữ chính qui và phi chính qui dùng chung được một hệ thống đánh giá, thuận lợi cho người học.

Chương trình học cũng được thiết kế lại thống nhất: đối với bậc học phổ thông, dạy và học ngoại ngữ sẽ theo “chương trình 10 năm” bắt đầu từ lớp 3 cho đến hết lớp 12, có thời lượng 1.295 tiết được phân bổ cho các cấp như sau: tiểu học gồm lớp 3,4,5 học 4 tiết/tuần, tổng cộng toàn cấp là 420 tiết.

THCS gồm các lớp 6,7,8,9 với 4 tiết/tuần, tổng cộng toàn cấp là 560 tiết. THPT gồm lớp 10,11 và 12 với 3 tiết/tuần, toàn cấp là 315 tiết.

Sau khi tốt nghiệp tiểu học, học sinh sẽ đạt trình độ ngoại ngữ bậc 1, tốt nghiệp THCS đạt bậc 2 và tốt nghiệp THPT đạt bậc 3 của bảng năng lực ngoại ngữ.

Đối với các trường đại học, cao đẳng không chuyên ngoại ngữ, sẽ tiến hành dạy và học ngoại ngữ theo nhiều chương trình khác nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu đầu vào khác nhau.

Sinh viên tốt nghiệp cao đẳng không chuyên ngữ đạt trình độ bậc 3,5, sinh viên tốt nghiệp cao đẳng không chuyên ngữ những ngành có yêu cầu cao về ngoại ngữ đạt trình độ bậc 4. Sinh viên tốt nghiệp đại học không chuyên đạt gần bậc 4, những ngành có yêu cầu cao về ngoại ngữ đạt trên bậc 4. Sinh viên tốt nghiệp các trường đại học chuyên ngữ, sư phạm ngoại ngữ đạt trình độ bậc 5.

Theo Thanh Hà
Tuổi Trẻ

Việt Báo
contentlength: 22579
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Clip học sinh mầm non bị đánh liên tiếp khiến dân mạng phẫn nộ
00:00 / --:--