Chỉ 11,6% giảng viên có chứng chỉ Toefl

15:26 17/10/2007
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Chi 11,6% giang vien co chung chi Toefl 

Giờ học môn ngoại ngữ của các bạn sinh viên K32, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM (ảnh chụp sáng 15-10). Ảnh: MINH ĐỨC

Đề tài “Nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh tại ĐHQG TP.HCM thông qua việc cải tiến qui trình và xây dựng hệ thống kiểm tra và công nhận trình độ tiếng Anh theo hướng chuẩn hóa quốc tế” được thực hiện trong hai năm 2005 và 2006. Sau đây là một số kết quả từ cuộc khảo sát này...

Trước hết là những thông tin về giới tính. Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy đa số giảng viên là nữ, tỉ lệ giảng viên nam chỉ chiếm 21% tổng số. Đây là đặc thù của ngành giảng dạy ngoại ngữ nói chung và ngành tiếng Anh nói riêng.

Đội ngũ giảng viên trẻ, nhưng...

Kết quả khảo sát cho thấy tuổi đời và thâm niên giảng dạy tiếng Anh của các giảng viên trong mẫu điều tra tương đối tương xứng với nhau. Đa số giảng viên trong độ tuổi 25-35 (81,1%). Điều này cho thấy hiện nay tuổi đời của các giảng viên tiếng Anh tại các trường ĐH trên địa bàn TP.HCM tương đối trẻ. Thâm niên giảng dạy của đa số các giảng viên (85,3%) trong khoảng 1-10 năm.

đội ngũ giảng viên tương đối trẻ như vậy, cho dù đã có thâm niên giảng dạy (cũng chưa phải là nhiều lắm) đã chỉ ra sự cần thiết phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng giảng viên nhằm giúp không ngừng cập nhật thông tin và phương pháp giảng dạy mới để từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy.

Tuy nhiên, kết quả điều tra về chứng chỉ giảng dạy tiếng Anh quốc tế TKT - một trong những bài thi chuẩn mực về kiến thức và phương pháp giảng dạy tiếng Anh quốc tế của Hội đồng Khảo thí ĐH Cambridge - cho thấy số lượng giảng viên từng dự thi và lấy chứng chỉ TKT là rất ít, chỉ chiếm tỉ lệ 13,7% tổng số giảng viên.

Toàn bộ những giảng viên này đều thừa nhận trước đây chưa hề biết, chưa hề tìm hiểu về chứng chỉ này cho đến khi gặp chúng tôi, nhận được những bản thông báo và đăng ký theo học, rồi thi chứng chỉ TKT.

Từ những kết quả trên chúng ta có thể thấy dù các giảng viên tiếng Anh đang công tác tại một thành phố lớn và hiện đại như TP.HCM nhưng họ chưa chịu khó tìm hiểu và thường xuyên cập nhật thông tin về các tổ chức khảo thí tiếng Anh quốc tế. Từ đó kiến thức cũng như kỹ năng giảng dạy cùng với phương pháp kiểm tra, đánh giá sinh viên cứ theo lối mòn cũ.

Đa số chỉ có trình độ cử nhân

Về bằng cấp, theo mẫu điều tra của chúng tôi thì đa số giảng viên có trình độ cử nhân. Số có trình độ thạc sĩ chiếm tỉ lệ 27,4% và không ai có trình độ tiến sĩ. Đồng thời chỉ có 11,6% trong tổng số giảng viên của các trường có chứng chỉ trình độ Anh ngữ quốc tế (TOEFL hoặc IELTS). Khi so sánh những số liệu về bằng cấp này với cùng kết quả từ đề tài của TS Vũ Thị Phương Anh (2004), chúng tôi có thể thấy sự trùng hợp đáng kể. Đó là “tuyệt đại đa số giảng viên có trình độ cử nhân”.

Tất cả những thông tin trên đã cho chúng ta chỉ báo về bằng cấp và trình độ của các giảng viên và điều này cho thấy đội ngũ giảng viên tiếng Anh của các trường chưa mạnh, cả về năng lực sử dụng tiếng Anh (đây là một trong những điều kiện bắt buộc đối với các giảng viên) lẫn trình độ sư phạm.

Bởi vì “với trình độ cử nhân thì các giảng viên chỉ có thể thực hiện tốt một chương trình giảng dạy có sẵn theo những phương pháp đã biết, chứ chưa có đủ năng lực tự thiết kế chương trình, thay đổi giáo trình, hoặc lựa chọn và thử nghiệm các phương pháp mới để phù hợp với từng điều kiện giảng dạy và đối tượng cụ thể” (Vũ Thị Phương Anh, 2004).

Theo kết quả điều tra của chúng tôi, số lượng giảng viên có điều kiện học tập và sinh sống ở các nước bản ngữ, một điều kiện rất cần thiết để trở thành một giảng viên ngoại ngữ giỏi, có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh một cách tự tin và thành công thì rất ít, chỉ chiếm tỉ lệ 3,2% tổng số giảng viên.

Từ những số liệu này ta có thể có kết luận các giảng viên chưa đánh giá cao (nếu không muốn nói là kém) việc tổ chức giảng dạy hiện nay tại các trường. Đa số giảng viên mong muốn thời lượng dành cho môn tiếng Anh tăng lên (chứ không phải cắt bớt đi như cách chúng ta áp dụng trong một vài năm gần đây).

Phải có biện pháp khắc phục tình trạng trình độ sinh viên chênh lệch bằng nhiều cách, trong đó thiết kế bài thi đầu vào và phân loại xếp lớp là một trong những biện pháp hiệu quả nhất nếu được thực thi một cách nghiêm túc, đúng qui trình. Nên tăng cường thêm trang thiết bị dạy học, đặc biệt là những trang thiết bị về nghe nói cho sinh viên và phải có những bài thi cuối khóa có tính giá trị và độ tin cậy cao nhằm xác định đúng mức chuẩn tiếng Anh cần đạt được để từ đó công nhận trình độ của sinh viên cho chính xác.

NGUYỄN QUANG TRUNG/TTO

Quả thật bi đát

Trên thực tế, kết quả kiểm tra của hai năm học 2006-2007 và 2007-2008 đã cho thấy một thực tế rất khác với mong đợi của người ra đề thi. Trước hết, mặc dù tất cả thí sinh đều đã trải qua (và đa số là thành công) kỳ thi tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh trước khi dự thi đại học, nhưng điểm trung bình chung cho toàn bộ thí sinh của cả hai năm đều không đạt mức trung bình, chỉ đạt xấp xỉ điểm 4/10 cho kỳ thi ở trình độ sơ cấp theo cách tính hiện nay, tức trả lời đúng tối thiểu 50% số câu hỏi (thật ra vì đây là kỳ thi trắc nghiệm, tức có khả năng đoán mò, nên để được xem là đạt điểm trung bình thì thí sinh phải làm đúng ít nhất 65% tổng số câu hỏi).

Một điều đáng ghi nhận hơn là sự chênh lệch rất lớn về trình độ của sinh viên: kết quả đầu vào của cả hai năm cho thấy điểm của sinh viên trải dài từ 3-75 điểm trên bài thi 80 câu (kỳ thi xếp lớp năm 2006) và từ 0-74 điểm trên bài thi 90 câu (kỳ thi xếp lớp năm 2007).

Trong cả hai năm học, tỉ lệ sinh viên được xếp vào trình độ chuẩn trở lên chỉ đạt khoảng 30% (năm 2006) và 36% (năm 2007), và số sinh viên được xếp ở trình độ hoàn toàn vỡ lòng luôn đạt xấp xỉ 10-15% tổng số sinh viên. Nếu ta liên hệ kết quả này với thực tế rằng những học sinh này thuộc tốp 20% học sinh THPT ưu tú vì đã thành công trong kỳ thi tuyển sinh đại học, thì thực trạng về hiệu quả giảng dạy tiếng Anh ở bậc trung học của giáo dục VN quả thật là bi đát!

TS VŨ THỊ PHƯƠNG ANH

Theo TTO

VietBao.vn
contentlength: 8606
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Bất bình việc cô giáo mầm non bất ngờ rút ghế khiến bé gái ngã ngửa giữa lớp
00:00 / --:--

VẤN ĐỀ GIáO DụC NÓNG NHẤT

Nu sinh bi lot do danh hoi dong da man tren lop o Hung Yen

Nữ sinh bị lột đồ, đánh hội đồng dã man trên lớp ở Hưng Yên

Liên quan việc 5 nữ sinh lớp 9 trường THCS Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đánh liên tiếp vào người, đầu và lột đồ em N.T.H.Y,..

Co giao vao khach san co quan he bat chinh voi nam sinh lop 10

Cô giáo vào khách sạn, có quan hệ bất chính với nam sinh lớp 10

Vụ việc gây xôn xao dư luận khi cô giáo dạy Toán của trường THPT Nguyễn Huệ (thị xã Lagi) thuộc tỉnh Bình Thuận có quan hệ bất..