Bài 2: Quản trị trường ĐH như công ty

10:34 25/02/2007
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Khác với các công ty thường chỉ có mục tiêu duy nhất và rất rõ ràng là lợi nhuận, các trường ĐH có nhiều mục tiêu khác nhau và nhiều khi các mục tiêu đó không rõ ràng, chưa nói là có khi còn mâu thuẫn lẫn nhau, ở một mức độ nào đó.

Bai 2 Quan tri truong DH nhu cong ty
Trường ĐH Princeton, Mỹ

"Cùng nhau quản trị"

Các khoa và các đơn vị khác nhau trong trường phải cạnh tranh nhau một cái bánh ngân sách. Nghiên cứu và giảng dạy là hai nhiệm vụ liên quan mật thiết đến nhau, nhưng muốn nghiên cứu tốt thì phải bỏ nhiều thời gian. Do đó, thời gian còn lại dành cho công việc chuẩn bị bài giảng hoặc chăm sóc việc học của sinh viên ít hơn.

Nguyên tắc quản trị chung, hay có thể gọi là “cùng nhau quản trị” (shared governance) xuyên suốt các hoạt động đa dạng trong các trường ĐH ở Mỹ.

Theo nguyên tắc đó, các giảng viên cùng tham gia quản trị trường với các nhà quản trị hành chính, cụ thể là các quyết định về các hoạt động khác nhau được đưa ra dựa trên đề nghị của các ban, bao gồm chủ yếu là các giảng viên chính thức của trường.

Có rất nhiều ban thuộc mỗi khoa, thuộc mỗi trường con và toàn trường ĐH. Thành phần của ban hoặc do bổ nhiệm hoặc do bầu, và mỗi nhiệm kỳ từ 3-5 năm. Nói chung, giảng viên nào cũng phải tham gia một số ban trong khoa của mình.

Các ban hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, bỏ phiếu kín để quyết định tất cả mọi việc. Tùy tính chất công việc, một số ban có quyền quyết định cuối cùng luôn, các ban khác chỉ đưa ra những quyết định có giá trị tư vấn cho người quản trị trực tiếp công việc liên quan. Người quản trị có thể theo hoặc không theo các ý kiến do các ban đề xuất.

Xin đưa hai ví dụ:

Ví dụ thứ nhất là về “ban phát triển chuyên môn của giảng viên”. Mỗi học kỳ, Trường Khoa học-Nghệ thuật của ĐH Ohio chi một khoản tiền để cho các giảng viên tham gia các hình thức hoạt động mà các khoản ngân sách khác không phù hợp hoặc không có, và nhiệm vụ của ban này là đánh giá các đề xuất để cấp hoặc không cấp tiền. Các quyết định của ban là cuối cùng, sau đó trưởng ban có quyền viết thư thông báo với các giáo sư về kết quả bình chọn luôn.

Ví dụ thứ hai là “ban nâng bậc và bổ nhiệm chính thức” ở cấp trường. Khi một giảng viên được xét nâng bậc hoặc bổ nhiệm chính thức, nếu khoa cơ sở đề nghị lên (sau khi đã bỏ phiếu tán thành), thì “ban nâng bậc và bổ nhiệm chính thức” ở cấp trường họp lại và bỏ phiếu có đồng ý hay không. Thông thường, quy định là quá bán đồng ý là được, nhưng “được” ở đây có nghĩa là được đề xuất lên để hiệu trưởng thông qua, vì hiệu trưởng là người quyết định có được bổ nhiệm chính thức hay không (sau đó còn phải qua chủ tịch trường và hội đồng quản trị nữa, nhưng đó thuần túy là thủ tục).

Trên thực tế, hiệu trưởng luôn luôn thông qua các trường hợp quá rõ ràng, không phải bàn cãi. Đối với những trường hợp không hoàn toàn thuyết phục, kèm theo kết quả bỏ phiếu từ khoa cơ sở không nhất trí, thì hiệu trưởng có thể dùng quyền của mình để từ chối, nhất là đối với những trường hợp xét chính thức. Nhiều hiệu trưởng mạnh mẽ sử dụng quyền này thành công, tức là nâng được chất lượng của đội ngũ giảng viên của trường, nhưng cũng có người sử dụng không thành công, gây kiện cáo bất lợi cho trường hoặc làm các giảng viên bất bình. Một số khác không bao giờ sử dụng quyền này; đó là cách khá an toàn để tránh mọi rắc rối, nhưng không phải bao giờ cũng tốt, vì như vậy sẽ không duy trì được tiêu chuẩn cao cho đội ngũ giảng viên của trường.

Một biểu hiện khác của quản trị chung là vai trò của hội đồng giảng viên (faculty senate). Hội đồng giảng viên của các trường ĐH ở Mỹ là diễn đàn quan trọng để các giảng viên tham gia quản trị công việc trong trường. Vai trò của hội đồng giảng viên không như của hội đồng khoa học ở các trường đại học ở Việt Nam. Hội đồng giảng viên được bầu từ các giáo sư chính thức của trường, theo từng nhiệm kỳ, và thường là họp mỗi tháng một lần. Những vấn đề hội đồng giảng viên đưa ra xem xét rất đa dạng, từ việc xét các chính sách cụ thể về bổ nhiệm chính thức và nâng bậc, về bảo hiểm sức khỏe, các quyền lợi vật chất khác, đến các vấn đề về đường lối phát triển của trường, v.v...

Tuy nhiên, hội đồng giảng viên chỉ có vai trò tư vấn cho chủ tịch trường và hội đồng quản trị của trường, chứ không có quyền quyết định. Trong đại bộ phận các trường hợp, chủ tịch trường và hội đồng quản trị lắng nghe và làm theo các đề nghị của hội đồng giảng viên, nhưng trong nhiều trường hợp khác, họ nghe nhưng không làm theo (hoặc không hoàn toàn theo). Đó là một trong những lý do mà quan hệ giữa tầng lớp giảng viên và các nhà quản trị nhiều khi khá căng thẳng.

Các ĐH ở Mỹ nói chung không có tổ chức nào có chức năng tương tự như hội đồng khoa học ở các trường ĐH ở Việt Nam. Các vấn đề về chuyên môn, từ việc dạy gì và dạy như thế nào, đến việc bổ nhiệm chính thức và nâng bậc lên giáo sư và phó giáo sư…, đều do các khoa cơ sở quyết định hoặc đề xuất. Tất nhiên, mỗi khoa đều có những nhiệm vụ cụ thể trong giảng dạy sinh viên, và trưởng khoa là người chịu trách nhiệm bảo đảm khoa phải hoàn thành nhiệm vụ tối thiểu đó.

Ví dụ, khoa toán của ĐH Ohio có nhiệm vụ dạy các môn toán cho tất cả sinh viên (SV) trong trường. Vì toán là môn bắt buộc đối với đại bộ phận các ngành học, với những yêu cầu khác nhau, nên số SV đăng ký học toán rất nhiều. Dựa trên nhu cầu đó, có thể tính được số lớp toán cần thiết phải dạy trong từng học kỳ. Đó là việc khoa toán phải đảm nhiệm, nhưng phân công như thế nào và sử dụng chương trình như thế nào hoàn toàn do khoa quyết định.

Ngoài ra, khoa có thể mở các lớp khác để dạy những môn không bắt buộc đối với sinh viên khoa khác (nhưng có thể yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên toán). Nói riêng, tất cả các môn cao học về toán là do khoa tự đề xuất, cũng như những yêu cầu cụ thể đối với sinh viên cao học, miễn là thỏa mãn các ràng buộc về thủ tục và quy định chung.

Việc để các khoa được tự do tạo chương trình của mình nhằm làm cho các khoa chủ động sáng tạo để phát triển. Trong bối cảnh phải cạnh tranh mạnh để thu hút sinh viên và đầu tư, các khoa đều phải cố gắng để làm công việc giảng dạy và nghiên cứu trong khoa mình ngày càng tốt hơn.

Cứ 7 năm một lần, trường ĐH Ohio mời các chuyên gia từ ngoài trường để cùng kết hợp với một số giáo sư khác trong trường (nhưng từ các khoa khác) để xem xét các mặt hoạt động và chương trình từ cử nhân đến cao học và tiến sỹ của khoa. Trong thời gian 2-3 ngày làm việc, các chuyên gia đó phỏng vấn một số sinh viên, giảng viên, các nhân vật giữ trọng trách, xem xét các loại hồ sơ và các thống kê khác nhau về giảng dạy và nghiên cứu khoa học và chi tiêu, để viết một báo cáo toàn diện về khoa gửi lên cho lãnh đạo trường. Những nhận xét này sẽ giúp khoa nhìn thấy những mặt mạnh, mặt yếu của mình, cũng như giúp lãnh đạo trường trong việc ra các quyết định liên quan đến khoa.

Bai 2 Quan tri truong DH nhu cong ty
Trường ĐH Columbia, Mỹ

Quản trị trường như công ty

Các chức vụ lãnh đạo cao cấp trong trường ĐH như chủ tịch, tổng hiệu trưởng và hiệu trưởng đều được bổ nhiệm, dựa trên kết quả của các quá trình tìm kiếm nhân sự rộng khắp toàn nước Mỹ. Phương pháp chọn nhân sự này đề cao quyền hạn và trách nhiệm cá nhân. Việc quyền quyết định cuối cùng thuộc về hiệu trưởng của các trường con, tổng hiệu trưởng và chủ tịch là biểu hiện của phương pháp quản lý theo kiểu công ty trong trường đại học.

Những người quản trị trường thường đưa ra các quyết định dựa trên tính cạnh tranh và các yếu tố cung cầu của thị trường giáo dục. Ví dụ, để thu hút các tài năng, họ có thể trả lương cho những giảng viên trẻ mới vào trường nhiều bằng hoặc thậm chí hơn các giáo sư đã có nhiều năm thâm niên, trong cùng một khoa.

Một hiện tượng khá phổ biến là những người phụ trách các đội bóng đá (bóng đá Mỹ là bóng bầu dục) và bóng rổ thường có lương cao hơn hẳn lương của những giáo sư uy tín nhất trong trường, thậm chí cao hơn cả lương của chủ tịch trường. Thể thao trong trường ĐH ở Mỹ là một ngành công nghiệp lớn; nhiều SV chọn trường theo tiêu chuẩn ở đâu có đội bóng mà họ hâm mộ thì họ đến.

Hàng năm, các giảng viên được tham gia đánh giá trưởng khoa và hiệu trưởng; những đánh giá này chủ yếu để trưởng khoa và hiệu trưởng biết và điều chỉnh, chứ không đóng vai trò quan trọng trong việc tăng lương. Các trường thường không để các giảng viên đánh giá chủ tịch trường và tổng hiệu trưởng, vì họ e rằng sự đánh giá như thế không khách quan và làm suy yếu những vị trí cực kỳ quan trọng này.

Năm ngoái, một nhóm giảng viên ở ĐH Ohio không hài lòng với chủ tịch mới của trường và họ đã đi vận động được hơn 400 giảng viên bỏ phiếu yêu cầu chủ tịch và tổng hiệu trưởng của trường cũng phải được đánh giá, như những vị trí lãnh đạo khác. Nhưng hội đồng quản trị đã không đồng ý; thay vào đó, họ đã cho phép hội đồng giảng viên được bầu một số đại diện để tham gia cùng hội đồng quản trị đánh giá chủ tịch, và ngoài ra, họ tăng cường đối thoại giữa hội đồng quản trị, chủ tịch và hội đồng giảng viên.

  • GS Vũ Quốc Phóng (ĐH Ohio, Mỹ)

Bài 3: "Nhân vật đặc biệt" trong ĐH Mỹ

************************

Các bài viết khác của tác giả:

Phần 1: ĐÀO TẠO TIẾN SĨ

Bài 1: Bằng tiến sĩ cũng linh động

Bài 2: Tiến sĩ không phải tiêu chí tối thượng

Bài 3: GS Việt ở nước ngoài- Kênh đào tạo TS còn bỏ ngỏ

Phần 2: ĐH TƯ THỤC

Bài 1: "Săn đón" con đại gia, nhiều sáng tạo quyên tiền

Bài 2: Nhiều ĐH tư thục niêm yết cố phiếu

Bài 3: ĐH tư thục phi lợi nhuận đầu tiên tại VN

Việt Báo
contentlength: 19384
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Clip học sinh mầm non bị đánh liên tiếp khiến dân mạng phẫn nộ
00:00 / --:--

VẤN ĐỀ GIáO DụC NÓNG NHẤT

Co giao vao khach san co quan he bat chinh voi nam sinh lop 10

Cô giáo vào khách sạn, có quan hệ bất chính với nam sinh lớp 10

Vụ việc gây xôn xao dư luận khi cô giáo dạy Toán của trường THPT Nguyễn Huệ (thị xã Lagi) thuộc tỉnh Bình Thuận có quan hệ bất..