Duyên thầm miệt Hậu Giang

09:01 19/02/2007
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Duyen tham miet Hau Giang
Đi trên sông Cái Lớn là ranh giới của các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Kiên Giang và Sóc Trăng, một ấn tượng quá lớn đập vào mắt: dừa nước giao du kín đôi bờ sông và bạt ngàn đến tận chân trời. Đi một đoạn sông, dài 5-7 cây số, thỉnh thoảng mới thấy một chòm nhà lá hiện ra. Còn lại là xanh thẳm, ngút ngàn lá dừa nước. Quả là một vương quốc lá dừa nước.

Nghiệp chướng với dừa

Đi trên sông trong một buổi sáng có gió bấc se lạnh, tôi ngẫm nghĩ: “Người ta nói biểu tượng của làng quê Việt Nam là lũy tre làng, nhưng với cư dân vùng này và cả miệt Hậu Giang (tính từ hữu ngạn sông Hậu đổ về mũi Cà Mau), là một rặng dừa nước ven sông, một dáng thôn nữ chèo xuồng, vài mái lá đìu hiu có khói lam chiều lững lờ. Hình ảnh đó đi vào thơ ca, đi vào lòng người Hậu Giang mà dù họ có đi năm non bảy núi cũng đau đáu ngóng về.

Không phải chỉ có trên sông Cái Lớn mà khi canô đi vào các xã Vĩnh Lộc, Ninh Thạnh Lợi, Ninh Hòa... của hai huyện Phước Long và Hồng Dân, dừa nước cũng mọc nhiều như thế. Chúng dày đặc ở bờ kênh, nhánh rạch, thậm chí ở biền trảng, sau hậu đất..., chúng mọc bất cứ nơi đâu có nước dù đó là nước ngọt hay nước mặn. Các loài cây khác tàn héo có mùa, còn dừa nước thì sung mãn quanh năm và sống dường như không có tuổi. Bắt đầu là một bộ chân (còn gọi là búp dừa) đen, vững chãi, sau đó là những tàu lá xanh lắt lay trong gió sớm, dịu dàng như những thiếu nữ. Dưới chân dừa là vô số loài: chim, cò, ốc len, ba khía, cua biển, nhái, chồn... Thế cho nên nguồn lợi từ tán rừng dừa nước cũng rất lớn.

Ghé xã Ninh Hòa, một vùng đất có nhiều địa danh nghe rất lạ tai: Tà Óc, Tà Xi, Tà Beng... và có lẽ đây là xã vùng sâu vùng xa không còn nơi nào để sâu và xa hơn nữa. Địa bàn kênh rạch chằng chịt, nhà thì đìu hiu thưa thớt và rất nhiều nhà lợp bằng lá dừa nước. Quang cảnh toàn là lá dừa nước, trông buồn và nghèo như chúng ta đi vào một vùng nông thôn cách đây vài chục năm... Toàn xã có đến hơn 700ha lá dừa nước.

Anh Tô Văn Trực - chủ tịch UBND xã - dẫn tôi về ấp Vĩnh An, nơi trước đây có đến 100ha đất lá, để tôi thâm nhập đời sống của người làm nghề khai thác lá dừa nước. Ở ấp Vĩnh An nghề khai thác lá dừa nước là một nghề chính, còn trước cả nghề ruộng. Thực hiện mùa ruộng từ tháng tư đến tháng mười âm lịch, người ta bước vào làm nghề khai thác lá dừa đến sa mưa mới quay lại ruộng. Có đến 80-90% hộ gia đình làm nghề khai thác lá. Đàn ông, trai tráng đốn lá, xé ra phơi; đàn bà, con nít thì chằm lá “vàng bạc” hay lá để lợp nhà hoặc đi chẻ lạt dừa, lạt mạ... bán cho ghe thương hồ.

Tôi vào một ngôi nhà có hai cô thôn nữ đang chằm lá. Họ là hai chị em ruột Lê Thị Hồng Thắm và Lê Thị Hồng Phượng. Đôi bàn tay của hai cô đều đen đúa và còi cọc vì nhựa dừa nước bám, vì sống dừa nước làm chi chít lỗ chỗ nham nhở. Tôi hỏi: “Làm nghề này thu nhập có khá không?”. Một cô bảo: “Lấy công làm lời thôi anh ơi. Tụi em chằm lá suốt ngày cũng chỉ được 17.000-18.000 đồng/người. Nhưng vì lá nhà, để bán lá thô rẻ hơn”. Lá thô thời giá hiện nay một thiên (1.000 tấm) là 1 triệu đồng, chi phí đốn phơi hết 200.000 đồng, mỗi công lá dừa nước thu hoạch tính ra so với làm ruộng thì thấp hơn phân nửa.

Bà mẹ của hai cô gái hơn 70 tuổi thêm vào câu chuyện của chúng tôi bằng giọng trầm buồn, đại khái câu chuyện của bà như sau: Ở xứ này người ta chặt bỏ lá dừa nước để làm ruộng và trồng tràm rất nhiều vì dừa nước làm cực quá mà lời không bao nhiêu. Thế nhưng gia đình bà và cả xứ này phải sinh sống, kéo dài việc làm nghề lá dừa nước như là một nghiệp chướng. Cái nghiệp chướng này không phải chỉ có ở Ninh Hòa mà cả miệt Hậu Giang - những nơi có lá dừa nước - và nó vốn có căn nguyên, đó là một nghề của thế hệ trước truyền cho thế hệ sau, và người miệt Hậu Giang càng lớn tuổi lại càng lưu luyến.

Vương vấn những hoài niệm

Duyen tham miet Hau Giang

Nhắc mới nhớ gia đình tôi cũng đã phải nương nhờ đám lá dừa nước vào những lúc ngặt nghèo nhất. Đó là vào năm 1970, chiến tranh vô cùng ác liệt, ba má tôi dắt díu ba đứa con đến xứ này (quê tôi bây giờ) lập nghiệp. Hồi đó ở đây là một đám lá tối trời. Ba tôi dọn rừng cất một căn nhà mà trừ mấy cây cột, kèo, đòn tay... ra tất cả đều được làm từ lá dừa nước như: vách, phên, buồng, rèm cửa... Tuy đó là một ngôi nhà mái lá đơn sơ nhưng đã che mát cho tôi suốt thời tuổi thơ. Tôi nhớ đến xót xa má tôi lặn ngụp cấy lúa đến đỏ đèn trong những chiều mưa tối đất, trên lưng là tấm lá chằm che mưa nắng cho đời lam lũ. Lá dừa nước không chỉ để làm nhà mà còn được dùng chế tác những công cụ phục vụ trong sinh hoạt như máng xối, gàu múc nước...

Thậm chí nhà nghèo, không có tiền mua bàn, tủ... ba tôi còn lấy sống lá dừa nước bện lại làm bàn ăn cơm, giường ngủ; lấy bẹ lá chằm “cà vun” đựng quần áo, chằm “cà bệt” đựng gạo, muối. Trong nhà còn nhiều thứ được làm bằng lá dừa nước như giỏ xách, cái quạt, bồ đựng lúa... Con nít ở quê tôi 7-8 tuổi đã biết thắt giỏ để đựng cơm đi ăn khi giữ trâu trên đồng xa. Cơm mà đựng trong chiếc giỏ ấy thì có mùi thơm thật đặc biệt. Có lẽ ở nông thôn không ai không biết bánh lá dừa, còn tôi nhớ hoài chiếc bánh lá ngày bé. Đó là một loại bánh được làm bằng bột gạo nắn mỏng dính trên chiếc lá dừa nước, đem hấp chín rồi gỡ ra cho vào đĩa trộn với nước cốt dừa, một ít gỏi dưa leo và chan nước mắm chua lên. Món ăn đơn giản ấy trong thuở đất nước nghèo, ly loạn, trẻ con đói khát, đã đeo bám suốt cuộc đời tôi.

Giờ đây công nghiệp phát triển, các sản phẩm phục vụ đời sống con người dần thay thế những công cụ được làm từ lá dừa nước. Thế cho nên diện tích lá dừa nước bị thu hẹp dần. Như xã Ninh Hòa giờ chỉ còn 190ha; còn ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu... diện tích giảm bao nhiêu thì không ai biết. Điều đó chứng tỏ rằng người ta không còn quan tâm đến sự tồn vong của cây dừa nước. Âu đó cũng là một qui luật của sự phát triển.

Tuy nhiên, những người lớn lên từ “văn hóa lá dừa nước” thì ngậm ngùi lắm. Tôi có một người cô ruột đã hơn 90 tuổi, cả đời cô lam lũ bên đám lá dừa nước. Năm ngoái người con thứ hai của cô ở Sài Gòn về cất cho một căn nhà tường khang trang. Anh bảo: “Đám lá ven sông không còn xài nữa đốn bỏ đi để giải phóng mặt tiền cho những người đi trên sông nhìn thấy ngôi nhà mới”. Cô tôi cự tuyệt. Đã thế bà còn bảo cháu nội cất cho một cái chòi lợp lá dừa nước rồi thường xuyên ra đó ở. Ai hỏi, cô bảo: “Ở nhà lá quen rồi, nó mát lắm”. Tôi biết cô nói cho qua lề chứ tôn lạnh bây giờ cũng mát lắm, vấn đề là người già hay vương vấn những hoài niệm thời tấm mẳn.

Mà nào chỉ có những người già, mỗi lần về quê, chiều chiều ra ngồi nhìn rặng dừa nước ven sông tôi bỗng thấy thấp thoáng cuộc đời lam lũ của ba má tôi trong căn nhà lá đơn sơ ngày cũ, thấy tuổi thơ nhọc nhằn của mình, rồi ứa nước mắt, nhận ra cái nghĩa lớn lao của cây dừa nước...

Khi khai quật các di chỉ văn hóa Óc Eo tại chân núi Ba Thê (An Giang), người ta phát hiện cách đây 1.000 năm cư dân vùng này đã biết chế tác cây dừa nước làm nhà ở và các dụng cụ phục vụ đời sống con người. Cách nay hơn 300 năm, người Việt, người Hoa... vào khẩn hoang Nam bộ lập tức kế thừa kinh nghiệm sử dụng cây dừa nước. Chính quyền thời khẩn hoang đã coi trọng vị trí của cây dừa nước.

Trịnh Hoài Đức viết trong Gia Định thành thông chí rằng khi đó người ta gọi dừa nước là “già dịp Thổ” và chính quyền phong kiến đã có chính sách thu thuế hẳn hoi. Còn những người khẩn hoang phần lớn là những người cơ khổ, nghèo khó nên họ phải dựa vào thiên nhiên, vào kinh nghiệm sống của người bản địa mà sống.

PHAN TRUNG NGHĨA

Việt Báo
contentlength: 11675
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

VẤN ĐỀ DU LịCH NÓNG NHẤT

Du lich Anh Quoc

Du lịch Anh Quốc

Đi du lịch ở nước Anh sẽ mang lại cho bạn những ấn tượng sâu sắc về con người, phong cảnh, kiến trúc và văn hóa ở nơi đây.

Du lich nuoc My

Du lịch nước Mỹ

Nước Mỹ không chỉ được biết đến với những thành phố đông dân mà các bởi rất nhiều kỳ quan thiên nhiên nổi tiếng thế giới.

Du lich Phu Yen

Du lịch Phú Yên

Phú Yên luôn là cái tên gây sốt cho những ai yêu thích du lịch bụi hoặc đi phượt bởi vùng đất này sở hữu trong mình quá nhiều cảnh..