Sống tốt, sống thật, hay sống thật tốt?

10:20 30/05/2004
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Song tot song that hay song that tot
Tôi có thể sống thật với xu hướng tính dục (sexual orientation) của mình?

Câu hỏi “Thế nào là sống tốt, sống thật? Thật có tốt không? Làm thế nào để sống thật tốt?” là những câu hỏi lý thú và có ý nghĩa lớn, đặc biệt đối với các bạn trẻ đang chuẩn bị bước vào đời. Tôi bắt gặp câu hỏi này trong một diễn đàn trên mạng - thật ngạc nhiên khi số bạn trẻ tham gia tranh luận câu hỏi này rất đông, nghiêm túc, và hết sức có kiến thức.

Tranh luận lại càng trở nên hào hứng hơn khi câu hỏi quay sang trường hợp cụ thể: Tôi là người đồng tính, sống tốt và sống thật trong trường hợp này thế nào? Tôi có thể sống thật với xu hướng tính dục (sexual orientation) của mình, mà vẫn tốt với chính mình và tốt với xã hội không? Tôi có nên lập gia đình với người mà tôi không thể yêu và không có ham muốn hay không? Tôi có thể cố gắng sống thật tốt để xã hội hiểu và thương yêu mình hay không?

Câu hỏi thật khó mà cũng thật cảm động! Trả lời thấu tình đạt lý cho các câu hỏi loại này quả là không đơn giản vì chân trị của nó tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố xã hội và yếu tố cá nhân. Mặt khác, "sống" tự thân nó là một quá trình mà sự đánh giá đúng sai, tốt xấu ở từng thời điểm chưa chắc phản chiếu đúng bản chất của cả một quá trình và sự đánh giá lại phụ thuộc vào mức độ chính xác và khách quan của thang đo (hay tiêu chuẩn) và phương pháp đo (phương pháp so sánh với tiêu chuẩn). Hơn nữa, khái niệm này lại là khái niệm động, nó thay đổi theo năng lực nhận thức của mỗi cá nhân và xã hội ở những thời kỳ nhất định. Do vậy, để trả lời các câu hỏi trên người ta thường không đưa ra các định nghĩa chung mà đưa ra các tiêu chuẩn hướng dẫn để mỗi cá nhân tự so sánh và ra quyết định về cách sống của mình.

Có hai bộ tiêu chuẩn chính để hướng dẫn và đánh giá thái độ và hành vi sống của mỗi cá nhân. Tiêu chuẩn đầu tiên là chuẩn xã hội. Chuẩn này được sử dụng rất phổ biến, rộng rãi, nó có mặt ở hầu hết mọi ngõ ngách của đời sống. Nó xuất hiện khi ai đó nói “Chẳng ai làm như thế! Làm thế người ta cười cho!”. Một câu nói cửa miệng của nhiều người - nhưng chứa hàm ý về sự so sánh một hành vi cá nhân với những tiêu chuẩn xã hội. Chuẩn xã hội được hình thành từ nhiều thành phần, trong đó các thành phần quan trọng phải kể đến là văn hóa, văn hóa phụ (subculture - văn hóa của một cộng đồng nhỏ, văn hóa của nhóm, văn hóa tổ chức, văn hóa của làng xã, gia đình), tôn giáo - tín ngưỡng, luật pháp, giáo dục, và khoa học. Nếu như văn hóa, văn hóa phụ và tôn giáo là những chuẩn có tính trừu tượng cao mà sự diễn dịch ý nghĩa đôi khi mang đến những kết quả rất trái ngược nhau, thì luật pháp, giáo dục, và khoa học là những chuẩn có tính cụ thể và khách quan hơn. Những thành phần này không độc lập mà chúng tác động qua lại tạo ra sự vận động và chuyển đổi về chất của từng thành tố. Tùy thuộc vào trình độ phát triển của từng xã hội mà trọng số của mỗi thành tố trong chuẩn xã hội có độ lớn khác nhau. Chẳng hạn khi khoa học chưa phát triển, giáo dục chưa phổ biến và luật pháp chưa được xây dựng đầy đủ thì tôn giáo, văn hóa, văn hóa phụ đóng vai trò chính yếu hướng dẫn, điều chỉnh hành vi của cộng đồng và cá nhân. Ngược lại khi khoa học phát triển ở bậc cao, giáo dục được phổ biến rộng rãi và có hiệu quả trong cộng đồng, luật pháp được cụ thể hóa, đầy đủ và minh bạch thì 3 thành tố này sẽ có trọng số áp đảo trong việc hướng dẫn xã hội. Tất nhiên vai trò của các giá trị văn hóa vẫn đóng vai trò không thể thay thế trong việc nối kết các thành viên trong xã hội và là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng hiện nay khái niệm văn hóa được định nghĩa là một quá trình học hỏi (learning process), nó không bất biến mà thay đổi theo sự phát triển của khoa học và tri thức nhân loại. Chúng ta nói nhiều đến giữ gìn và phát triển các bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này cự kỳ quan trọng, vì một nền văn hóa mạnh sẽ giúp các dân tộc, cá nhân vững vàng trước làn sóng toàn cầu hóa mãnh liệt hiện nay. Tuy nhiên, vì là quá trình học hỏi và tích lũy, nói đến xây cũng phải nói đến phá bỏ. Bỏ đi những hủ tục, những định kiến xã hội, những thứ văn hóa không lành mạnh cản trở phát triển như văn hóa “xin - cho”, văn hóa “chạy chọt”, văn hóa “đưa và nhận hối lộ”, văn hóa “trọng nam kinh nhữ”, văn hóa “kỳ thị sự khác biệt” có lẽ cũng quan trọng không kém. Cần mạnh mẽ và mạch lạc chỉ ra những ung nhọt trong văn hóa để cắt bỏ và để phát triển. Trong tiến trình này, phổ cập các kiến thức, ứng dụng khoa học hiện đại thông qua giáo dục và pháp luật là cơ sở quan trọng để mang đến những giá trị mới nhằm liên tục lành mạnh hóa chuẩn xã hội để nó luôn là tấm gương sáng hướng dẫn các giá trị sống cho các thành viên xã hội.

Điểm hạn chế của chuẩn xã hội là nó thường không đồng nhất và có thể có nhiều trị số do kiến thức và cách diễn dịch chuẩn này có thể rất khác nhau ở mỗi cá nhân, mỗi gia đình, hay trong các cộng đồng nhỏ. Trên thực tế chúng ta hay gặp những trường hợp mà đúng sai rất khó phân biệt, như trường hợp đồng tính ở đầu bài đã nêu, hay những trường hợp mà chúng ta hay gọi là “ba phải”, nghĩa là người mà ai nói sao cũng đồng ý, cũng thấy có lý. Phụ thuộc quá nhiều vào chuẩn xã hội sẽ tạo ra những con người nhàn nhạt, không tự tin. Đây chính là hạn chế của chuẩn xã hội, và do vậy chuẩn này thường phải sử dụng kèm với chuẩn thứ hai - chuẩn cá nhân.

Bên cạnh việc tham chiếu các giá trị của xã hội hay “người ngoài”, mỗi cá nhân dựa trên kiến thức, năng lực nhận thức, và kinh nghiệm sống thường xây dựng cho mình những hệ qui chiếu, những giá trị riêng. Đây chính là cơ sở quan trọng để mỗi cá nhân chọn lọc, phân biệt đúng sai khi chuẩn xã hội không đồng nhất, có nhiều chân trị. Đây chính là lúc mỗi người cần dừng lại và lắng nghe chính mình, nghe khối óc và nghe cả trái tim mình. Chuẩn này lớn lên, vững chãi theo từng nhịp phát triển của mỗi cá nhân. Khi chưa thành niên, chuẩn này còn mơ hồ, chúng ta do vậy phải dựa vào chuẩn xã hội do gia đình, thầy cô, và cộng đồng hướng dẫn. Bước vào tuổi thành niên, cũng là lúc những câu hỏi lớn “sống thật, sống tốt là thế nào?” đến với mỗi cá nhân, vì lúc này đã có những điểm phân kỳ giữa chuẩn xã hội mà trước đây là duy nhất đúng với chuẩn cá nhân đang thành hình trong ta. Mâu thuẫn, dằn vặt nảy sinh khi chuẩn xã hội và chuẩn cá nhân cho những giá trị khác nhau. Giải quyết tốt mâu thuẫn loại này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giải phóng con người và phát triển xã hội.

Với hai chuẩn so sánh, ta sẽ có ba trường hợp. Trường hợp 1, sống theo chuẩn xã hội và quên đi chuẩn cá nhân. Đây là kiểu sống “vì mọi người”, hay “sống tốt với xã hội”, nhưng chưa chắc (và trong rất nhiều trường hợp) “không tốt với chính mình”. Trường hợp thứ hai, sống theo chuẩn cá nhân và bất cần chuẩn xã hội, đây là kiểu sống “mình vì chính mình”, “sống thật với chính mình” và trong nhiều trường hợp không phù hợp, không “tốt” với xã hội. Trường hợp cuối cùng - trường hợp lý tưởng, là khi chuẩn xã hội và chuẩn cá nhân hội tụ, mỗi người vừa sống thật với chính mình vừa sống tốt và có trách nhiệm với xã hội. Đây là trường hợp “sống thật - tốt”. Trường hợp 1 và 2 xuất hiện khá phổ biến trong xã hội, nó thể hiện quyết định của mỗi cá nhân khi phải đương đầu với xung đột giữa hai chuẩn. Cả hai trường hợp đều có cái gì đó không ổn. Quay lại ví dụ về các bạn đồng tính hiện nay. Một số lựa chọn phương án 1, quên xu hướng giới tính tự nhiên của mình (đồng tính hiện nay được khoa học khẳng định là một xu hướng tính dục tự nhiên - không thể lựa chọn) và cố gắng ép mình sống “tốt” theo yêu cầu của chuẩn xã hội, tức là lấy vợ hay lấy chồng. Thực sự ở trường hợp này, “tốt” chỉ là ở bề mặt, còn bất hạnh và mất phương hướng sống lại ẩn sâu trong tâm khảm của mỗi cá nhân (người đồng tính, người bạn đời, con cái). Chỗ này, chuẩn xã hội chưa được cập nhật, hay các định kiến vẫn đang áp đảo kiến thức khoa học làm cho chuẩn xã hội không là tấm gương chuẩn xác. Một số khác lựa chọn phương án 2, sống “thật” với chính mình và như một cách phản ứng với định kiến xã hội, họ có nhiều hành vi gây phản cảm và tạo ra những ấn tượng xấu của xã hội đối với những người đồng tính nói chung. Ở trường hợp “thật nhưng không tốt” này, chuẩn cá nhân đã có nhưng còn phiến diện, chưa biết tôn trọng những giá trị gốc của xã hội, đây là kiểu sống vị kỷ. Cái này ta hay gặp ở trường hợp của tuổi mới lớn, thích nổi loạn - âu cũng là một giai đoạn khi mâu thuẫn giữa hai chuẩn xuất hiện, mà lời giải đáp lại chưa sẵn sàng. Trường hợp cuối - “sống thật - tốt” - đòi hỏi sự dung hòa, cân đối giữa hai chuẩn. Vẫn thật với chính mình mà vẫn tốt với xã hội. Có tồn tại phương án lý tưởng này không? Có! nhưng cần điều kiện tiên quyết - đó là sự điều chỉnh và thích nghi liên tục giữa hai chuẩn cá nhân và xã hội. Chúng ta thường nghe nói đến cá nhân phải thích nghi với xã hội, nhưng kỳ thực thích nghi là quá trình hai chiều, xã hội cũng cần có những thay đổi, cập nhật để là môi trường sống lành mạnh cho mỗi cá nhân trên nền tảng của sự đồng nhất và cả trên sự khác biệt.

Vậy để sống “thật tốt” mỗi cá nhân cần xây cho mình một chuẩn cá nhân với nền tảng tri thức và văn hóa mạnh mẽ để có thể sống thật là mình, trách nhiệm với chính mình và vẫn sống tốt, đầy trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội. Đi kèm theo nỗ lực của mỗi cá nhân là nỗ lực song hành của cộng đồng trong việc lành mạnh hóa môi trường sống gỡ bỏ những định kiến lạc hậu. Câu trả lời có lẽ không giới hạn trong phạm vi ví dụ về các bạn đồng tính trong bài mà có thể khái quát trong rất nhiều bối cảnh sống. Và cuối cùng, sống “thật tốt” là một quá trình dài, mà điểm khởi đầu là sự dũng cảm, niềm tin, và lòng kiên trì. Vượt qua và chiến thắng chính mình không có vòng nguyệt quế nhưng có ánh sáng của niềm tự hào và lòng yêu cuộc sống thiết tha.

Nguyễn Công Hoàng

Việt Báo
contentlength: 14228
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

TIN Đời Sống-Gia Đình NỔI BẬT

Vợ vô sinh chết lặng khi biết sự thật chồng giấu giếm bấy lâu

Anh bảo tình yêu của anh là tôi, người anh muốn chung sống suốt đời là tôi, còn cô gái kia chỉ là "giải pháp tình thế" vì tôi vô sinh. Anh khẩn cầu tôi đồng ý đón đứa trẻ về nhà nuôi dưỡng...