Doanh nghiệp còn thờ ơ !

09:12 22/08/2005
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Ở Việt Nam đang tồn tại hai luồng chuyển giao công nghệ (CGCN) chính. Thứ nhất là từ Cty mẹ ở nước ngoài cho Cty con gồm liên doanh, doanh nghiệp (DN) 100% vốn nước ngoài. Thứ hai là CGCN thương mại thuần túy. Thực tế cho thấy, đại đa số dự án CGCN thuộc diện thứ nhất. Số còn lại chiếm tỉ lệ rất thấp.

 

Số liệu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cho thấy, năm 2004, tính trên 104 nền kinh tế được nghiên cứu, Việt Nam x?p hạng 79 về mức độ sử dụng bằng sáng chế, hạng 99 về mức sử dụng bằng sáng chế công nghệ nước ngoài. Một số nghiên cứu trong nước cho kết quả, 90% hợp đồng CGCN “chảy” vào DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Tại Bộ Khoa học - Công nghệ (KHCN), đến nay mới chỉ có trên 200 hợp đồng CGCN được phê duyệt, đăng ký, chiếm phần rất nhỏ trong số các dự án CGCN thực thi tại Việt Nam. Nếu xét đến yêu cầu của pháp luật bắt buộc mọi hợp đồng CGCN đều phải được phê duyệt, đăng ký trước khi thi hành, ta dễ nhận thấy có quá ít DN quan tâm đến khía cạnh pháp lý trong CGCN.

 

Ở nước ta, một vấn đề quan trọng trong CGCN là sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện chưa phát triển. Cụ thể là mạng lưới dịch vụ về SHTT hiện rất mỏng. Số chuyên gia làm việc trong lĩnh vực này chưa đến 200 người với gần 30 Cty cung cấp dịch vụ, chủ yếu làm thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp. Vai trò của các nhà cung cấp dịch vụ trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền SHTT chưa cao. Chất lượng và trình độ của các nhà cung cấp dịch vụ ở mức thấp. Mặt khác, 95% số sáng chế được bảo hộ (cấp bằng độc quyền) ở Việt Nam là của người nước ngoài. Tuy nhiên, lại có thực tế là tổng số sáng chế được bảo hộ hiện nay tại Việt Nam chỉ là hơn 5000 trong tổng số khoảng 50 triệu sáng chế của toàn thế giới. Về nguyên tắc, người Việt Nam hoàn toàn có quyền tiếp cận, nghiên cứu, thậm chí tự do khai thác và cải tiến 99,99% số sáng chế kể trên. Nhưng thông tin SHTT đang là một trong những khâu yếu nhất trong hoạt động SHTT. Nước ta mới có hệ thống thông tin về sở hữu công nghiệp, chủ yếu là tư liệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa. Số lượt người khai thác thông tin sáng chế rất thấp (khoảng 1000 lượt người/năm). Phần lớn các yêu cầu tra cứu thông  tin được tiến hành với nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp chứ không phải là sáng chế. Hầu hết các DN - kể cả các DN lớn của Nhà nước - chưa ý thức đầy đủ về vai trò, giá trị của tài sản trí tuệ. Đến đầu năm 2004, số người đại diện sở hữu công nghiệp được đăng ký hành nghề tại Việt Nam chưa quá 100...

 

Những con số trên cho thấy thực tế đáng lo ngại là các DN, đặc biệt là DN trong nước, chưa quan tâm đúng mức đến công nghệ vì họ đã bỏ qua phương thức quan trọng, hiệu quả để có được công nghệ hiện đại. Hệ quả là DN càng ít để ý đến vai trò của tư vấn pháp lý (TVPL) trong CGCN. Một số DN đã đến thẳng cơ quan quản lý nhà nước về công nghệ để tham vấn thay vì nhà tư vấn chuyên nghiệp. Lẽ thường là DN đó vẫn có thể nhận được câu trả lời chính xác nhưng sẽ phát sinh chuyện các cơ quan nhà nước khó có thể bố trí thời gian và nhân lực để theo sát quá trình CGCN của DN. Vì vậy, câu trả lời của họ thường chỉ đề cập đến nguyên tắc chung. Hơn thế, dù đã tìm đến nhà TVPL thì yêu cầu chủ yếu của DN chủ yếu xoay quanh thủ tục hành chính. Đa số DN chưa nghĩ đến việc hoạch định một ngân sách cụ thể để trả cho tư vấn CGCN hoặc chỉ chấp nhận phí tư vấn ở mức thấp. Điều đó đồng nghĩa với chất lượng tư vấn rất hạn chế.

 

Nói chung, một dạng “văn hóa” nào đấy trong CGCN theo thông lệ chưa được hình thành.

 

Ngược lại với ta, vị trí của nhà tư vấn tại các nước phát triển trong CGCN đã được khẳng định. Họ đã và đang trở thành người bạn đồng hành của DN ngay từ khi xuất hiện ý tưởng về mua - bán công nghệ cho tới khi kết thúc dự án, thậm chí ngay cả khi kết thúc dự án, vai trò của tư vấn không hề giảm khi có tranh chấp xảy ra. Do tham gia sâu vào hoạt động CGCN nên công việc của nhà tư vấn rất đa dạng và phức tạp. Nó bao hàm cả lĩnh vực tư vấn mang tính đầu tư - kinh doanh - kỹ thuật nhằm hỗ trợ các bên xây dựng chiến lược, tư vấn thị trường, khảo sát, đánh giá công nghệ, tổ chức đấu thầu mua sắm công nghệ...; hoặc TVPL, giúp DN bảo vệ quyền và lợi ích trong CGCN. Đáng tiếc là những phần việc trên chưa được các DN nước ta chú ý mặc dù pháp luật đã có quy định khá rõ tại Nghị định 45/1998/NĐ-CP quy định chi tiết về CGCN và một số văn bản khác.

 

Trong xu thế hội nhập hiện nay, chuyên nghiệp hóa trở thành tiêu chí hàng đầu nhằm nâng cao tính cạnh tranh của mỗi DN. Việc sử dụng nhà TVPL chuyên nghiệp trong CGCN không nằm ngoài khẳng định này. Hiện tại, Bộ KHCN đang tích cực soạn thảo Luật SHTT và Luật CGCN - những văn bản rất quan trọng khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) - dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua trong năm 2005 và 2006. Đây là một hướng phát triển nhằm thoát khỏi hiện trạng công nghệ lạc hậu hiện nay.

 

HNM

VietBao.vn
contentlength: 6737
Chia sẻ
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Video nổi bật

Piaggio giới thiệu “Người vận chuyển” tự lẽo đẽo theo chủ nhân
00:00 / --:--