Nao lòng về “vùng tụt hậu”

08:30 21/03/2004
Bấm ngay
Đăng Ký xem video hay mới nhất

Nao long ve �Svung tut hau� 

Cố Nguyễn Ngọc Thịnh (thứ ba từ trái sang), đội trưởng dân công xã Thiết Ống (huyện Bá Thước), người trực tiếp phụ trách việc chuyên chở dân công, bộ đội vượt sông Mã ở cầu phao bến đò Vụng Ngao

Từ Thọ Xuân, theo Quốc lộ 15A chúng tôi ngược miền Tây Thanh Hóa giữa màu xanh đại ngàn cùng những dãy núi lô nhô đặt tên không xuể. 50 năm qua đi, lần theo “chị gánh, anh thồ” và những đoàn quân rầm rập hướng ra mặt trận ngày nào, chúng tôi lại hiểu thêm nỗi lòng con người trên những mảnh đất này…

 

Quốc lộ miền Tây mượt mà dù đôi chỗ vẫn gặp những tốp công nhân sửa đường. Lái xe, một lính “xế” Trường Sơn là thổ dân xứ Thanh bảo : “Công ấy do chuyên gia Cu Ba giám sát, không chưa biết chừng còn khổ hơn những con đường đóng mác Thọ Xuân”. Không như dưới xuôi, đường miền núi vắng hoe. Hi hữu vài chiếc xe máy lướt nhanh và chắc mất cả giờ mới gặp chiếc xe tải ngược chiều chở mía về nhà máy đường Lam Sơn.

 

Người Mường ở Ngọc Lặc chiếm ngót 70% cư dân . Họ tự hào với Sử thi “Đẻ đất, đẻ nước”, tục Pôồn Pôông (cầu cuộc sống yên bình), hội Xéc-bùa (tượng trưng cho 12 tháng)… Và nhiều người con xứ Mường đã đi vào lịch sử. Lê Lai người làng Dượng Tú, xã Kiên Thọ “Xả thân cứu chúa” để cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đi đến đích cuối cùng. Ngày phong trào Cần vương, các Mường Ngọc Lặc tham gia khởi nghĩa, có bài vè truyền tụng tới giờ: “Đứng lên giữ đất cho tròn/ Anh ở Mường Ngòn, em ở Mường Ai/ Bác ở Mường Ta, Mường Lai/ Mẹ ở Mường  Ngoài, chị ở Mường Trong/ Người Mường Rụn, kẻ Mường Vong/ Người đất Mường Vồng, kẻ ở Mường Ao/ Mặc áo xông vào vác súng lên vai…”

 

Miên man hoài cổ, chúng tôi quên bẵng thị trấn Ngọc Lặc đã chuyển phố mới nối tiếp phố huyện cũ. Mỗi bên chỉ một dãy nhà nhưng còn khá nhiều đất trống, chia ô, có lẽ người ta xí phần chờ đội giá. Phía sau là những cánh đồng bạc màu khô hạn, đất vật từ ruộng đắp lên những con đường làng. Chưa kịp ầu ơ về con đường quốc lộ vừa đi, chúng tôi đã bị Trưởng phòng Tổ chức Lao động Trịnh Đình Loan lôi xềnh xệch xuống thăm cố Bùi Văn Thân ở xã Ngọc Liên. Bác Loan bảo: “Đi nhanh không về tối mất. Có hơn hai chục cây số nhưng khổ vớ ! Đường xã mà, không như đường quốc gia đâu”. Và chúng tôi mất ngót một giờ ngồi xe, người đau ê ẩm. Cố Thân 75 tuổi, người Mường, đi bộ đội đến năm 1951 thì bị thương, từ đó đôi mắt không còn nhìn thấy gì. Mời chúng tôi uống rượu, giọng cố buồn buồn: “Nhà báo gặp người khác đi, tôi biết gì chuyện Điện Biên đâu !”. Cố nói nghèn nghẹn, đôi mắt tàn phế hấp háy ngấn nước. Trước cố Thân thuộc tiểu đoàn 325 Thanh Hóa, từng tham gia tiễu phỉ ở Lang Chánh, Bá Thước, diệt đồn Cổ Lũng, thông đường miền Tây rồi bị thương trong khi truy kích địch trên đất Thượng Lào. Chia tay chúng tôi, cố Thân lời bộc bạch : “Tôi đen đủi quá. Giá như tới lúc giải phóng Điện Biên hãy bị thương hay nói dại có nằm lại chiến trường cũng đỡ hận”.

 

Sau khi mở thông các con đường đi Thượng Lào, lên Tây Bắc, về khu 3, 35 nghìn dân Ngọc Lặc tích cóp từng cân gạo góp cho kháng chiến. Từ 1951-1954, trung bình cứ 12 người dân mỗi năm góp tới 1 tấn lương thực. Cố Phạm Văn Nhung, ngày ấy là thường vụ huyện ủy Ngọc Lặc kể: “Là hậu phương nhưng ác liệt chẳng kém chiến trường. Đồng bào đi cấy, đi cày, đi gặt dưới làn bom đạn kẻ thù”. Những nhà dân vững chắc được huy động kho chứa thóc, vẫn chưa đủ, bà con còn đóng góp hàng triệu cây luồng, nứa, gỗ để dựng hàng loạt kho tàng. Rồi những người dân chân đất vai trần lại sẵn sàng chờ lệnh lên đường tải lương cho chiến dịch.

 

Từ Ngọc Lặc lên Bá Thước Quốc lộ 15A lại bám theo sông Mã, con sông chia huyện thành hai bờ Nam Bắc. Mùa cạn, sông Mã hiền hòa, nước lững  lờ trôi theo những bãi bồi tít tắp. Đồng bào Mường, Thái là cư dân chủ yếu, chiếm 85% dân số Bá Thước. Ngày kháng chiến, bà con khu 3 tản cư về đây sống trong sự đùm bọc cưu mang của người Thái, người Mường như anh em một nhà, rồi quý đất nể người mà ở lại lập nghiệp : “Nơi trũng làm ruộng/ Nơi bằng làm nương/ Nơi sườn dốc làm nhà mà ở…”

 

Nhớ lời ca của dân công xứ Thanh: “Đi từ Phủ Quảng, Chiềng Giầy/ Đi lên La Hán đến làng Hồi Xuân”, chúng tôi không thể không tới những địa danh oanh liệt một thời. Phà La Hán nằm cách thị trấn phố huyện Cành Nàng hơn một cây số, khi xưa là một trong những điểm tập kết lớn nhất của dân công, bộ đội trước khi qua sông Mã, sang Hòa Bình, vượt núi băng rừng áp sát lòng chảo Điện Biên. Cảnh xưa, bờ đá gốc gạo còn đó nhưng chiến tranh qua đi, bến phà giờ tĩnh lặng. Thưa thớt đò ngang đưa dân qua sông, còn phà dường như cả ngày không hoạt động.

 

Bên kia mấy cô gái Thái, gái Mường thanh thản ra bến sông giặt giũ rồi lội ào ào xuống tắm dù nước sông Mã mùa này còn giá lắm. Phía xa khói chiều tỏa từ những nếp nhà sàn nằm lưng chừng núi lung linh, huyền ảo. Chúng tôi nhớ lại lời cố Nguyễn Ngọc Thịnh, nguyên đội trưởng dân công xã Thiết ống, người trực tiếp phụ trách cầu phao Vụng Ngao (phía trên phà La Hán) trong những ngày chuẩn bị nổ súng mở màn chiến dịch Điện Biên: “Xuân ‘54 thời tiết khắc nghiệt lắm, nước sông Mã dâng cao, bọt trắng xóa đôi bờ, nhìn buốt da buốt thịt. Vậy mà đêm nào cũng rầm rập dân công, bộ đội qua sông”. Hỏi cố mỗi đêm chở bao nhiêu chuyến ? - Cố không nhớ, chỉ biết có ông lão nhà ở bến đò đêm nào cũng nấu ít nhất 15 thùng nước lớn phục vụ dân công, bộ đội.

 

Trong làng ngoài  xóm, người già không còn đủ sức đi dân công cũng đổ cả ra đường. Các ông đan bồ, làm quang gánh hoặc chữa xe thay đồ, các bà, các mẹ chăm sóc người không may ngã bệnh. Cố Thịnh kể: “Cứ 5-6 giờ chiều chúng tôi lặn xuống, kéo cầu phao lên dựng lại rồi ra chở đò cho đến sáng lại đánh đắm đò và cầu phao xuống sông tránh máy bay địch”. Đến ngày các lối mòn miền Tây vắng người qua lại, cố Thịnh quay sang đánh xe trâu. Bà con làng xã ai cần thì ới, cứ thế vợ chồng tần tảo nuôi 9 người con. Năm nay chẵn 50 năm ngày Điện Biên giải phóng, chúng tôi biết, huyện định làm chế độ gì đấy cho cố Thịnh nhưng khổ nỗi cố chẳng còn giấy tờ gì. Lớp trẻ cứng nhắc đòi thủ tục mà không để ý đồng đội  của cố vẫn còn đôi người. Họ là những nhân chứng có giá trị hơn mọi loại giấy tờ. Còn cố Thịnh, tức chí vặc lại: “Giấy tờ có ăn được đâu mà giữ”. 50 năm đầy biến cố cùng lo toan trăn trở đời thường khiến ai đó lãng quên quá khứ. Nhưng bây giờ không làm thì lúc nào đó chúng ta không thể chuộc lỗi với những con người hết sức bình dị đã góp phần làm nên lịch sử.

 

Khi ấy, sự sống, cái chết họ đâu có màng tới nên lẽ nào lại để ý tới những giấy tờ để làm thủ tục tuyên dương công trạng sau này. Với chúng tôi, cố Thịnh chân thành: “Tôi chỉ muốn cả làng, cả xã xứ Thanh đông vui như ngày đi mặt trận. Không phải mình hiếu thắng, thích chiến tranh, nhưng giờ đây tĩnh lặng quá, yên ắng quá đâm ra sợ…”

 

Có lẽ điều cố Thịnh không muốn nói ra là “sợ tụt hậu” như tâm sự của mấy ông cán bộ huyện ở miền Tây. Ông Quách Xuân Hậu, phó chủ tịch UBND huyện Ngọc Lặc khẳng định : “Không phải chúng tôi không muốn phát triển công nghiệp, nhưng ai vào đây đầu tư, đất này có gì để thu hút đầu tư ? Vẫn biết trong tay có đất đấy nhưng toàn đồi với núi. Làm nông nghiệp, lâm nghiệp có cần cù chịu khó cũng chỉ đủ ăn đã tốt lắm rồi”. Trong số 27 nghìn hộ dân, Ngọc Lặc vẫn còn tới 1/4 số hộ nghèo và hơn một nghìn nóc nhà tranh tre nứa lá. Ông Hậu chỉ ước tỉnh hay quốc gia đầu tư ủng hộ huyện xây dựng đường giao thông liên xã, mà đầu tư dứt điểm một lần , lai rai vài ba trăm triệu không mở nổi  lối chứ đừng nói tới làm đường. Chờ vào nội lực của một huyện miền núi rất khó, mục tiêu trước mắt của Ngọc Lặc là giảm thiểu số hộ nghèo và “thông” hết vấn đề điện - trường - trạm.

 

Chủ tịch UBND huyện Bá Thước Bùi Văn Huy có nhiều lo lắng hơn. Năm 1991 số hộ nghèo ở huyện chiếm tới 80%, 10 năm sau giảm xuống còn 41%, đến nay con số đó vẫn còn hơn 1/3. Vậy nên Bá Thước đang phấn đấu cân đối đủ lương thực. Hiện toàn huyện mới có 17/23 xã có điện, 6/23 xã có thể liên lạc bằng điện thoại, nhưng để đạt 100% số xã chắc còn phải tới giai đoạn 2005-2010.

 

Một điều nữa cả ông Hậu và ông Huy đều lo lắng là trình độ cán bộ ở các huyện miền núi. Sao cho 100% cán bộ đều có trình độ tốt nghiệp PTTH đã là cả vấn đề. Người miền núi không phải lúc nào cũng trông chờ nhà nước “ưu đãi” cho cái sự học. Ví như ở Ngọc Lặc hàng năm đều có xấp xỉ 400 học sinh thi đỗ từ trung cấp tới đại học; riêng năm 2003 con số đó nâng lên hơn 2 lần. Chỉ cần một lứa học sinh ấy sau khi được đào tạo quay trở về, quê hương đã không thiếu cán bộ có trình độ. Thế nhưng học song chúng đều tứ tán, rặt không thấy đứa nào trở về - Ông Hậu buồn bã lắc đầu - Cũng bởi xứ này nghèo quá.

 

Cái khổ, cái cơ cực của miền Tây xứ Thanh có lẽ không xa lạ mới mẻ. Nhưng chắc không nhiều người biết nơi đây từng vắt hết sức người sức của cho 9 năm trường kỳ kháng chiến của dân tộc. Họ đã “thắt lưng buộc bụng” làm tròn trách nhiệm với đất nước lẽ nào hôm nay lại để hậu cứ xưa trở thành “vùng tụt hậu” với canh cánh nỗi lo “cân đối đủ lương thực” ? Đồng nghiệp xứ Thanh bảo: “Dân quê choa gan lắm, chẳng chịu nhận mình làm “vùng sâu vùng xa” để xin hỗ trợ xóa đói giảm nghèo nên khổ”. Chúng tôi nghĩ không thể chần chừ thêm nữa…

 

HNM

VietBao.vn
contentlength: 12825

VẤN ĐỀ CHíNH TRị NÓNG NHẤT

Dai hoi Dang XII

Đại hội Đảng XII

Đại hội lần thứ XII là sự kiện trọng đại của Việt Nam được dư luận thế giới hết sức quan tâm